Archive for the ‘Âm nhạc’ Category

SAY NO TO RACISM – HÃY CHẤM DỨT KỲ THỊ

Tháng Bảy 23, 2011



Lê Sỹ Minh Tùng

Trong trận đá banh bán kết (semifinal) cho giải túc cầu vô địch thế giới dành cho nữ giới được tổ chức tại Đức quốc sáng nay giữa Hoa Kỳ và Pháp. Sau khi chào quốc kỳ, mỗi đội banh có một cầu thủ đại diện đọc bài diễn văn ngắn bằng ngôn ngữ của nước mình mà chủ đề là ”Say No To Racism” nghĩa là hãy chấm dứt kỳ thị. Sau đó tất cả cầu thủ hai bên đứng sau lưng tấm bích chương rất lớn viết câu “SAY NO TO RACISM” làm chú ý đến hàng triệu triệu người trên khắp thế giới đang trực tiệp xem trận đấu này. Cách đây mấy ngày tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã đọc bài diễn văn cũng kích động lương tâm của hàng ngàn người trên thế giới để sống hòa bình với nhau thay vì tranh chấp đố kỵ mà dẫn đến giết chóc chiến tranh.

Vậy con người kỳ thị cái gì?

Lịch sử Hoa kỳ là một lịch sử dai dẵng về kỳ thị từ khi lập quốc đến nay. Những cuộc nội chiến nam bắc bùng n kéo theo những kỳ thị về sắc da, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính nam nữ và biết bao những vấn đề kỳ thị khác. Mãi đến ngày 28 tháng 8 năm 1962, mục sư Martin Luther King đã đọc một bài diễn văn rất ni tiếng tại Lincoln Memorial ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn mà trong đó ông nói rằng :”Mọi người được sinh ra bình đẳng như nhau và bốn đứa con của ông sau này sẽ được đánh giá bằng tư cách nhân phm chớ không phải bằng màu da của chúng. Ông tranh đấu bất bạo động để dành lại quyền tự do nhân bản cho mọi người đặc biệt là người da màu. Kết quả, người Hoa kỳ ngày nay gần gủi với nhau hơn, các sắc dân đem những tập quán phong tục đặc thù của họ để điểm tô cho nền văn hóa Hoa kỳ ngày càng thêm phong phú, đa dạng. Vậy mục sư King hấp thụ tư tưởng này từ đâu? Năm 1959 ông sang Ấn độ, đến nơi sinh ra của nhà tranh đấu bất bạo động Mahatma Gandhi. Khi về Mỹ ông tuyên bố rằng:”Sau khi đến Ấn độ tham vấn đường lối tranh đấu của Gandhi, tôi tin chắc rằng con đườngtranh đấu bất bạo động là vũ khí sắc bén nhất để dành lại công lý, nhân quyền cho con người.

Mục sư King hấp thụ tư tưởng tranh đấu bất bạo động từ Gandhi, còn Gandhi hấp thụ tư tưởng của ai hay ai là thần tượng của Gandhi? Vâng! Người đó không ai khác hơn là đức Phật Thích Ca.

Sinh ra và lớn lên trong xã hội phong kiến kỳ thị giai cấp của người Bà la môn, đức Phật là người đầu tiên trên thế giới đưa ra tư tưởng bình đẳng, nhân ái cho tất cả mọi người. Ngài thâu nhận tôn giả Ưu Bà Ly là người thuộc giai cấp hạ tiện thấp nhất thời bấy giờ làm đệ tử đã gây ra biết bao tranh luận sôi nổi trong hàng vua chúa ủng hộ Ngài. Chẳng những thế, Ngài còn thâu nhận nữ phái vào tăng đoàn và đây là những ni chúng đầu tiên của nhân loại mà chưa hề có tôn giáo nào thực hiện được. Câu nói bất tử củađức Phật là tuy con người hình dáng có khác nhau, màu da có khác nhau, sinh ra trong hoàn cảnh xã hội có khác nhau, ngay cả tiếng nói và phong tục có khác nhau, nhưng tất cả đều có nước mắt cùng mặn và máu cùng đỏ như nhau. Trong khi đó ở Trung Hoa tinh thần phong kiến hủ lậu, trọng nam khinh nữ, trên đội dưới đạp vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Vai trò của người phụ nữ không ra ngoài cái tam cương cay nghiệt đi ngược lại với nhân bản của con người. Hãy lắng nghe nhà báo, nhà thơ, nhà văn và cũng là sử gia Bá Dương viết trong cuốn “Người Trung Hoa Xấu Xí”. Ông viết rằng: “Văn hóa Trung Hoa đã biến thành một đầm nước chết vì đặc tính rõ nhất của người Trung Hoa là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào và tự kiêu tự phụ. Ngày xưa người Trung Hoa gọi những dân tộc phía bắc là rợ Phiên, rợ Hồ. Phía nam thì gọi là nam man…còn chính giữa thì họ tự xưng là thiên tử (ông trời con). Vì thế mới có hiện tượng Ngọc hoàng thượng đế là người Tàu, Diêm vương cũng lại là người Tàu. Nói chung cái gì hay nhất thế giới thì thuộc về Tàu. Người Trung Hoa nào cũng đều tự hào mình là một con rồng, nói năng vanh vách, trên thì chỉ cần thổi nhẹ một cái là dập tắt ánh sáng mặt trời, dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Đó là chưa kể người Trung Hoa rất ni tiếng về sự thù hận, thay vì thực hành đức tính từ bi hỷ xả, lấy ân trả oán thì họ chủ trương người quân tử mười năm trả thù vẫn chưa muộn. Người Tây phương có thể đánh đấm nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Hoa đã đánh nhau rồi thì cừu hận trọn đời thậm chí có khi phải báo thù cho đến ba đời cũng chưa hết. Tuy tự phụ khoe khoang, nhưng Người Tàu không che dấu được bản chất tự ti, ích kỷ, không can đảm dám khen ngợi người. Tư tưởng và nhân cách như vậy chẳng những không thể nào so sánh với người Nhật mà ngay cả người Đại hàn cũng vượt xa họ hơn mấy ngàn năm ánh sáng.

Vậy King, Gandhi áp dụng tư tưởng của đức Phật như thế nào?

Tuy Gandhi và King có áp dụng lối tranh đấu bất bạo động da theo tư tưởng hòa bình nhân ái của Phật giáo, nhưng họ không áp dụng rốt ráo triệt để giống như lời dạy của đức Phật. Đức Phật giới thiệu tư tưởng bình đẳng, tôn trọng nhân bản con người nhưng Ngài chỉ đem nó ra giảng giải như là một nền giáo dục để thay đổi, cải thiện xã hội Ấn độ đương thời đầy dẫy bất côngvới mục đích đưa cuộc sống con người lên cao. Đức Phật là bậc toàn giác nghĩa là trong Ngài không còn bất cứ vẫn đục tham-sân-si nào cả. Ngài vào đời với tinh thần vô ngã vị tha nghĩa là làm việc vì đời chớ không phải vì lợi danh. Ngài lìa bỏ công danh phú quý như bỏ đôi dép rách nên tuy lời nói Ngài là trung thực nhưng không phải là mối đe dọa cho chế độ nào. Ngài làm cuộc cách mạng để giải phóng con người ra khỏi mọi sự khổ ách của trần gian. Ngược lại King và Gandhi cũng áp dụng lối tranh đấu đó, nhưng đối với họ đây là phương tiện để họ thăng tiến trong những bước thang danh vọng. Vì lo sợ như thế mà King bị ám sát ở Hoa kỳ và Gandhi bị những thành phần cực đoan ám sát ở Ấn độ. Cho đến ngày nay cái chết của King vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn. Gia đình King vẫn cho rằng chính FBI (Federal Bureau Investigation), cơ quan tình báo trung ương Hoa kỳ đã giết chết King vì nghi ngờ ông ta có liên quan đến Cộng sản và liên lạc với những thành phần phản chiến trong đó có Việt Nam.

Tại sao đức Đạt Lai Lạt Ma tha thiết kêu gọi con người nên thương yêu lẫn nhau, tha thứ cho nhau và cộng tác với nhau thay vì tranh chấp, giết hại lẫn nhau mà những nhà lãnh đạo vẫn im hơi lặng tiếng trơ trơ như đá cẩm thạch? Một lần nữa cũng tại ông Tàu. Vì tham vọng làm bá chủ thế giới bành trướng thế lực, đất đai từ đông qua tây, từ trên xuống dưới nên lúc nào họ cũng nuôi tham vọng khống chế, đồng hóa các dân tộc nhỏ chung quanh. Họ rất hảnh diện với chánh sách cai trị bạo tàn của Tần Thủy Hoàng nên đem nó ra giới thiệu như là một hiện tượng văn hóa tối cao trong ngày khai mạc thế vận hội cách đây mấy năm. Là người Việt Nam không một ai không nhớ đến những trang sử oai hùng của những anh hùng bất khuất Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng, Hưng Đạo Vương Trần Hưng Đạo, anh hùng áo vi Lam Sơn Lê Lợi, vua Quang Trung và biết bao những anh hùng hào kiệt khác nữa. Chính chính quyền Trung quốc đã làm áp lực rất mạnh không biết bao nhiêu lần để ngăn chận những cuộc tiếp xúc giữa đức Đạt Lai Lạt Ma và chính phủ Hoa kỳ. Người Mỹ lúc nào cũng đặt quyền lợi của tư bản lên trên hết vì thế khi nghe đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng thì dĩ nhiên đôi khi lời nói của Ngài cũng đánh thức cái lương tri của họ chứ. Họ cũng cảm thấy nhột nhạt khi không giúp gì cho đức Đạt Lai để ép buộc Trung Quốc trả đất Tây Tạng lại cho người dân Tây Tạng cho nên đôi khi để đền bù cho sự ơ hờ và cũng để vớt vát phần nào sự cắn rứt của lương tâm, thậm chí họ còn dùng Ngài như là một con cờ để mặc cả với Trung quốc nên chính phủ và quốc hội Mỹ thường trao tặng cho Ngài huy chương vàng này, bằng khen nọ. Đức Lạt Ma đâu cần những thứ phù du giả tạm này, cái mà Ngài muốn thấy là đất Tây Tạng được trả về cho người dân Tây Tạng. Bao nhiêu cửa tiệm, gian hàng cờ xí Trung Hoa khắp mọi nơi trên đất Tây Tạng phải được cuốn dọn về Tàu. Trong khi đó, Trung cộng cố gắng đồng hóa dân Tây Tạng càng nhanh càng tốt cho nên chữ Hán được thay thế tiếng Tây Tạng trên mọi lãnh vực. Họ còn cho di dân vào những vùng đông dân để kiềm chế nắm lấy hoàn toàn đất nước này. Đạo Phật chỉ còn là hình thức bề ngoài, còn bên trong kinh doanh trục lợi vẫn là mục tiêu chính vì thế họ không ngần ngại tu chỉnh biến tất cả những tu viện nổi tiếng ngày xưa thành ra những trung tâm du lịch. Ngay cả cung điện Potala bây giờ không còn là trung tâm quyền lực như thuở nào mà vắng lặng điêu tàn chỉ còn phảng phất vài kỷ niệm mà mấy trăm năm trước đã vang bóng một thời. Đây có lẽ là mối ưu tư hàng đầu của đức Đạt Lai Lạt Ma khi thấy dân tộc mình chết chìm và Phật giáo tại Tây Tạng trên đà suy vong mà Ngài không làm gì được. Không những hiện tượng này xảy ra tại Tây Tạng mà ngay cả Trung quốc, Việt Nam ngày nay đều có chung một ảnh hưởng là chùa to, Phật lớn nhưng tất cả đều là những trung tâm du lịch để kiếm tiền. Niềm lo âu và cũng là thế kẹt của chính phủ Hoa Kỳ là tư bản Mỹ đã đầu tư để thiết lập biết bao công ty sản xuất hàng hóa với giá công nhân rẽ mạt tại rất nhiều tỉnh ở phía nam Trung quốc. Thí dụ như công ty Apple của Steve Jobs khi sang Trung hoa thì biến thành Foxconn chuyên chế tạo tất cả những sản phẩm như iPhone, Macintosh computer…Nếu chính phủ Mỹ hó hé, có thái độ thì Mỹ là người lỗ nặng chớ đâu phải Trung Hoa. Thí dụ như thuế nhập cảng hàng hóa từ Trung Hoa vào Mỹ chỉ đóng khoảng 2.5% thuế trong khi đó hàng hóa xuất cảng qua Trung Hoa phải đóng thuếtới 25%. Tại sao có sự chênh lệch quá cao như vậy mà chính phủ cũng như quốc hội Hoa Kỳ chp nhận mà không thay đổi? Bởi vì phần lớn hàng hóa nhập cảng từ Trung Quốc là do những công ty của Hoa kỳ làm chủ cho nên tư bản càng ngày càng giàu trong khi đó việc làm ở Hoa kỳ càng ngày càng khó kiếm là vậy. Chưa đủ, những công ty lớn thay vì đặc bản doanh tại Mỹ thì họ chạy sang các nước Tây Âu để đóng thuế ít hơn. Do đó công quỷ Hoa kỳ càng ngày càng kiệt quệ, nợ nần càng chồng chất mà tư bản cứ phây phây du hí hết Mễ đến Jamaica. Tại sao? Bởi vì họ là những người đóng góp nhiều nhất cho sự đắc cử của những nhân viên chính phủ Hoa kỳ. Vì thấy sự bất bình đẳng trong xã hội Mỹ, chính đức Đạt Lai Lạt Ma đã phát biểu trong chuyến viếng thămNew York năm 1999 rằng:

Ngày nay, chúng ta còn đối mặt với một vấn đề nữa, đó là sự phân cấp giữa người giàu và kẻ nghèo. Ở nước Mỹ này, tổ tiên của các bạn đã thiết lập những khái niệm về quyền bình đẳng, quyền tự do, sự tự do, sự bình đẳng và những cơ hội bình đẳng cho mọi công dân. Những khái niệm này được quy định bởi luật pháp của các bạn. Tuy nhiên, con số những nhà triệu phú ở nước này đang gia tăng trong khi những người nghèo đói, thậm chí họ càng ngày càng nghèo hơn. Điều này thật đáng tiếc thay!

Theo thống kê mới nhất của năm 2011 về những người giàu nhất thế giới thì người Trung Hoa đoạt giải quán quân có nhiều ông bà triệu phú nhất. Trong khi đó nước Tàu cũng đoạt huy chương vàng vì có số người nghèo nhiều nhất thế giới. Sự chênh lệch quá mức như vậy không biết những nhà lãnh đạo Trung quốc giải thích thế nào? Lý tưởng mọi người được hưởng như nhau thì nhà cầm quyền cất dấu ở đâu?

Thông điệp của đức Đạt Lai Lạt Ma khiến cho làn sóng dân chủ ngày nay lan tràn vào Trung quốc và Ngài hy vọng rằng một ngày nào đó người dân Trung Hoa sẽ đứng lên dành lại hòa bình, tự do, dân chủ cho đất nước Trung Hoa và dĩ nhiên đất Tây Tạng sẽ được trả về cho người Tây Tạng tự trị. Thông điệp của Ngài không những đánh thức lương tâm những giới trẻ Trung Hoa, mà hy vọng sẽ đánh thức lương tâm những nhà lãnh đạo Hoa kỳ đừng quá mù quáng chạy theo tham vọng kinh tế mà hãy nhìn lại sự sống còn của biết bao người bất hạnh khác.

Nhân đọc bài “Tiếng chuông chùa giữa sóng nước Trường Sa” của Minh Ngọc có trích đoạn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát tâm nguyện rằng:

Mong Đức Phật phù hộ độ trì: Cho quân dân huyện đảo Trường Sa bình yên, mạnh khỏe, hạnh phúc, thắng lợi. Cho nước Việt Nam hòa bình, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu nước mạnh, dân chũ, công bằng, văn minh.

Đây chính là lời nói của một vị Thủ tướng đức độ, tài trí vẹn toàn, thương người như thể thương thân làm chúng tôi rất kính ngưỡng. Nhưng nếu câu nói trên Ngài cộng thêm hai chữ nhỏ” vào thì sẽ mang lại biết bao hạnh phúc “lớn lao” cho người dân Việt. Đó là hai chữ “TỰ DO”. Bởi vì thiếu tự do thì tất cả cũng chỉ là bánh vẽ, ăn c đời người mà không bao giờ no được. Dân chủ mà không có tự do thì dân chủ què quặt, hòa bình mà không có tự do thì hòa bình giả tạo, công bằng mà không có tự do thì công bằng một chiều, thiếu chân lý. Nói chung thiếu tự do thì làm gì thật sự có hạnh phúc. Ai là người hưởng hạnh phúc? Ai là kẻ bị hy sinh cho người khác được hạnh phúc? Bởi vì “tự do” là trái tim cho sự sống, là linh hồn của đất nước, là tiếng nói của muôn dân. Con người có linh động, có sáng tạo, có phát triển tối đa tài năng thiên phú cũng vì có tự do cho nên ở Hoa kỳ tự do là điều được tôn trọng trong hiến pháp và được quý trọng như chính mạng sống của mỗi công dân.

Cũng trong lần viếng thăm năm 1999, đức Đạt Lai Lạt Ma nói thêm rằng:

Cách đây không lâu, một gia đình giàu có ở Bombay đến thăm tôi. Người vợ trong gia đình đó là một người rất tin vào thần thánh, bà ta yêu cầu tôi hãy ban phúc cho bà ta. Tôi đã nói với bà: “Tôi không thể ban phúc cho bà. Tôi không có khả năng đó!”. Và sau đó tôi bảo bà ta: “Bà xuất thân từ một gia đình giàu có. Đấy là một điều may mắn. Điều may mắn này là kết quả của những việc làm đức hạnh của bà trong kiếp trước. Người giàu là những thành viên quan trọng trong xã hội. Bà đã cố gắng kinh doanh để tích luỹ ngày một nhiều của cải hơn. Bây giờ bà nên dùng của cải của mình để giúp đỡ những người nghèo khổ về mặt giáo dục và sức khỏe”. Chúng ta nên sử dụng đường lối tư bản đề mà kiếm tiền rồi sau đó phân phối số tiền đó một cách có ý nghĩa và thiết thực cho cộng đồng”.

Một người đức hạnh là người không tích trử trong khi kẻ khác thiếu ăn. Con người luôn có khuynh hướng tích góp của cải càng nhiều càng tốt, nhưng họ đâu có biết rằng lòng tham càng tăng thì giá trị cuộc sống càng giảm. Nói cách khác tiền càng nhiều, càng tăng thì đạo đức càng dễ đi xuống. Tuy chúng ta có vun bồi, tạo tác những dinh thự nguy nga đồ sộ để có cuộc sống như ông hoàng bà chúa. Nhưng than ôi! Nhà có thể đẹp, to lớn hơn, nhưng mái ấm, niềm vui hạnh phúc gia đình lại càng suy giảm thậm chí có thể mất hn nếu đạo đức không tăng trưởng theo. Khi con người lấy tâm vô lượng để làm lợi ích cho người khác thì tự họ đã tạo nên rất nhiều nghiệp thiện và khi nghiệp thiện nầy vừa tạo xong thì phước báu đã được ghi nhận trong tâm thức rồi mà không cần người đền ơn kẻ đáp nghĩa. Do đó người đã từng làm nhiều lợi ích cho mọi người thì nghiễm nhiên chính họ đã tạo cho mình rất nhiều phúc đức. Vậy “phước là do làm lợi ích cho người mà có, còn “đức là cái tốt của tự tâm. Như thế người đi theo chánh đạo là phải biết chu toàn đầy đủ cả phước lẫn đức bởi vì phước và đức luôn hỗ trợ cho nhau. Thật vậy, tâm có tốt thì việc làm thiện mới được chu đáo và lâu bền còn đức có sâu thì phước mới lớn. Vì thế khi làm việc thiện, chúng ta nên củng cố thêm chất tốt của nội tâm mình. Ngược lại, nếu có kẻ làm phước mà không có đức, tức là làm việc thiện vì mục đích vị kỷ thì chắc chắn sẽ có lúc làm ác vì tư tưởng xấu có ngày sẽ khởi ra hành động bất thiện. Do đó cái phước sẽ không thể phát triển đến vô cùng vô tận.

Con người ngày nay có thể chinh phục được vũ trụ, vượt ngàn dặm để lên tới mặt trăng và trở về, nhưng tại sao vẫn bất lực với chính mình? Cũng vì không làm chủ được bản tâm chạy theo tham dục nên trước sau vẫn không thoát khỏi sự sai sử của vô minh, làm nô lệ cho bản ngã, vật chất giả tạm để rồi cuối cùng cũng bỏ lại hết cho đời. Thật vậy ngày nay con người có nhiều bằng cấp hơn, thông minh hơn, có thể phân chia những nguyên tử, nhưng vẫn bất lực với chủ quan, định kiến của mình vì thế tuy con người trong thế giới hiện tại có rất nhiều thứ để giải trí mà càng ngày càng ít được thư giản, tâm trí không an lạc thì tìm đâu ra chân hạnh phúc. Hãy nhìn lại có phải chúng ta học cách kiếm sống chớ đâu phải học cách sống cho nên tuy con người có thể kéo dài được tuổi thọ, nhưng cuộc đời của họ vẫn ngắn ngủi không có giây phút nào an lạc.

Thêm nữa, trong thực tế của cuộc đời, không một ai hoàn toàn thoát khỏi những lo âu phiền muộn trừ khi chúng ta trở thành bậc toàn thiện hay bậc Thánh. Tuy nhiên, nếu con người hiểu rõ được bản chất của cuộc sống để không còn phàn nàn, không còn bất mãn mà can đảm nhận lãnh những kết quả của thân khẩu nghiệp thì đau khổ không những không còn làm cho chúng ta sa đọa, mà còn giúp chúng ta tiến đến chổ Chân, Thiện, Mỹ. Có con người là có phiền não khổ đau và chính những cái phiền não khổ đau nầy là cái giá mà con người phải trả cho sự chiếm hữu cái thân ngũ uẩn nầy. Do đó khi gặp nguy khó mà chúng ta vẫn giữ được nụ cười trên gương mặt trầm tĩnh và sáng suốt để giải quyết vấn đề mà không tỏ ra một chút bối rối lo âu thì đây chính là sự biểu lộ một nhân cách cao thượng vậy.

Sau cùng nếu con người biết đem tình thương chân chính của sự hy sinh, độ lượng và vị tha vào trong cuộc sống thì những phân biệt kỳ thị, những phạm trù đối đãi nhị nguyên có ta có người sẽ chấm dứt. Lúc ấy con người sẽ hiểu thế nào là nỗi khổ của người và lấy hạnh phúc người làm hạnh phúc cho mình thì danh từ “kỳ thị” sẽ vĩnh viễn biến mất trong tâm hồn của họ.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

cung cấp thêm bài viết

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-125_4-10206_5-50_6-1_17-59_14-1_15-1/


Thien Gia


Những giọt mồ hôi “vô thường”

Tháng Bảy 20, 2011


Mẹ đắp mền cho con ngủ/Trong mền có hơi ấm mẹ ủ ngàn năm/Để tim con rực lửa cõi trần
Mẹ nấu cơm cho con lót dạ/Hạt ngọc là thân thể con đây/Xây núi đồi đất nước…

Lời của Ngô Thị Hạnh trong bài thơ “Cảm ơn mẹ” đấy. Chừng đó cũng thấy trong tình thâm mẫu tử đã ẩn chứa sâu xa ước vọng tuổi trẻ về tương lai của đất nước của tác giả.

Đối diện với Hạnh, nét chân quê vơi đi ít nhưng nét hồn nhiên, chân thực, thông minh thì biểu lộ nhiều từ bản chất đến hình thức bề ngoài.

“Nắng từ những ngón chân” – Nxb Thanh Niên năm 2010 là tác phẩm thứ 5 của Hạnh, sau “Vang Vọng”, “Rơi ngược” (Thơ – Nxb Thanh Niên) và “Hòn bi vỡ” (tập truyện), “Ba cô mèo cài hoa phượng” (truyện vừa) – NxbKim Đồng. Với tập thơ mới nhất này, Hạnh tập trung nhiều vào chủ đềgia đình.

Mẹ đã từng vượt cạn
cha không thể đau giùm
con càng làm mẹ khổ
xẻ thịt và phanh thây

Kiệt sức vì sinh tử
mẹ trải qua một mình
sao giờ còn sợ hãi
trước một ánh nhìn: thôi!
(Bài “Mẹ đã từng…”)

“Nắng từ những ngón chân” có hai phần: Nỗi đau chuông gióKhoả thân tâm trạng. Qua vần thức mỗi bài thơ, người đọc như thấy lòng mình se lại, nhịp đập con tim như buốt hơn trong niềm thương nỗi tảo tần của người mẹ. Sự chịu đựng đến vô thường của mẹ làm cho người con thấy lo lắng xót xa. Và tự thấy phải trách nhiệm với bản thân mình hơn. Cuộc đời gian lao vất vả của mẹ, của cha cũng là tấm phản chiếu cho con liệu mà bước đi trên đường đời. Hạnh nhận ra cái “vô thường” của mẹ để rồi những giọt mồ hôi của mẹ, giọt nước mắt của con hoà vào nội tâm của thơ:

Tôi thấy tôi trong khắp kiếp nhân sinh
Nắng chứa chan Sài Gòn nhật thực
Tôi khát thương yêu dịu ngọt cỏ hoang tàn…

Chương Nỗi đau chuông gió gợi mở một tư duy khác về cuộc đời của người mẹ và của người làm cha. Hạnh muốn chia sẻ nỗi lòng của cha mẹ. Tác giả lột tả tâm trạng của mình trong thơ cũng nhằm nhắn nhủ những bậc làm cha mẹ nên tự nhân diện rõ cảm xúc thật của mình. Dù đó là cảm xúc không lành lặn trong tâm hồn, khi được thừa nhận, có thể mọi việc sẽ tốt hơn là nuốt ngược nỗi chịu đựng vào lòng. Dám nói lên nỗi lòng của người mẹ, để đặt câu hỏi: vai trò của người đàn ông như thế nào trong xã hội và trong gia đình, là cột trụ dưới mái ấm hay hời hợt, yếu đuối trước những người phụ nữ dám sống và không sợ phải trả giá…

Trong thơ của Ngô Thị Hạnh, người đọc thấy từng giọt thời gian vương trên tóc người mẹ, nắng không nhuộm nhưng tóc mẹ dần phai màu. Ứa nước mắt và càng thông cảm hơn những nhọc nhằn của người mẹ như thế, hy sinh vì con cái, gia đình.

Hạnh nói: “Tập thơ “Nắng từ những ngón chân”, Hạnh dành những suy tư về mẹ. Mẹ đã vượt lên khổ đau, mẹ hoạt bát, bươn chải, giỏi giang. Với mẹ tất cả đều là hạnh phúc, hạnh phúc của người phụ nữ thời hiện đại, vừa “xây nhà vừa xây tổ ấm”, gắng sức đến nỗi thấy mẹ không còn là chính mình. Ý này được thể hiện trong bài thơ “Người đàn bà gánh”:

Thương cha mẹ xát muối vào lòng
thương con mẹ tảo tần lặng bước
những lúc buồn nước mắt nghẹn rơi

Con phân thân là nắng
mẹ gánh cả trời cao…

hay

Con khóc mẹ đau
Cha sầu mẹ héo
Ruộng vườn khô mẹ nứt nẻ cõi lòng…
(Bài “Nỗi đau chuông gió)

Phải chăng đó lại là hạnh phúc của mẹ ? Do vậy, Hạnh đã rung động viết “Bí mật của hạnh phúc” chăng ? Và mỗi lần lần dở trang thơ đọc lại, Hạnh vẫn rưng rưng, lòng muốn những người làm chồng, làm cha nhìn cuộc đời người mẹ làm sự phản chiếu rọi lại chính mình mà nâng niu gìn giữ tổ ấm. “Bí mật của hạnh phúc” đã nói lên tâm trạng này:

Mẹ quét nhà, rác chảy ra sân
cha quét nhà, rác chảy vào ngực mẹ
rát buốt

Mẹ rửa mặt
mồ hôi hoà tan vào nước
cha rửa mặt
giọt mặn chảy vào đôi mắt mẹ cay

Nhưng trong bài “Nghịch lý”, người đọc lại thấy con thấu hiểu mẹ hơn:

… từ người đàn bà hoá nắng mùa xuân
không biết ngại ngần đau và khổ
từ người đàn bà mẹ trở thành Bồ Tát
chẳng biết yêu mình chỉ biết sống vì con
từ người đàn bà mẹ biến thành tiên nữ
không biết khát tình mơ vọng cho yêu

Những vui buồn của mẹ
gắn vào con như thịt ở trong da…

Con với bao la
lao vào khát vọng
nắng tan vì mình
ngỡ nắng tự hiến dâng…

Có lẽ vì hiểu mẹ đến vậy nên khi bài thơ “Mẹ ơi” khởi lên trong đầu, Hạnh viết nhanh nhất trong tập, nhưng lại là bài có tứ suy ngẫm trong tâm tư suốt thời gian gần 1 năm. Cách diễn đạt đơn giản, nhưng khắc hoạ được hình ảnh người mẹ lầm lũi, vất vả, buồn vui nhạy cảm, dễ bị tổn thương nhất trong gia đình. Tình yêu bắt nguồn từ những điều giản dị nhất, và cũng có thể ra đi vì những điều nhỏ nhất mà ta không ngờ tới. Chữ tình, chữ hiếu của người con đã được tác giả thăng hoa bằng tình thương yêu không kém phần nuối tiếc, tạc vào tâm khảm suốt cuộc đời.

Ngày nào mẹ cũng lau nhà
sàn nhà sạch tâm hồn mẹ rỗng
ngày nào mẹ cũng nấu cơm
bữa cơm đầy hạnh phúc dần vơi…
(Trích bài “Mẹ ơi”)

Hạnh cất tiếng khóc chào đời tại miền quê Hưng Yên rồi theo cha mẹ vào sống tại Tây Ninh. 30 tuổi đời, nhưng Hạnh đã có một bề dày hoạt động xã hội sôi nổi trong 10 năm. Lúc đang độ tuổi trăng tròn bay nhảy, Hạnh đã là Phó Bí thư Đoàn trường Trần Hưng Đạo ở Tây Ninh, Phó Chủ nhiệm CLB Hoa học đường NVH Tây Ninh, cộng tác viết bài cho các báo Mực tímÁo trắng. Khi là sinh viên trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân Văn TP Hồ Chí Minh, cô tiếp tục viết cho các báo Văn nghệ, Tuổi trẻ, Phụ nữ của TP Hồ Chí Minh… Lúc còn sinh viên khoa ngữ văn trường đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP. Hồ Chí Minh, Hạnh đã xuất bản 2 tập sách “Vang vọng” và “Hòn bi vỡ”, hoạt động tích cực trong CLB Văn học của khoa. Ra trường, Hạnh đã từng làm việc ở NXB Thanh Niên, là thành viên trong Ban Văn trẻ của Hội nhà văn thành phố. Là một người viết khá lặng lẽ, nhưng cũng là một người yêu thích những hoạt động phong trào của Hội, Hạnh luôn hào hứng với những trại sáng tác dành cho người trẻ và tham gia Ngày thơ hàng năm của Hội.

Hạnh không chỉ sáng tác đều tay và tâm huyết trong thơ văn truyện ngắn, cô còn tham gia viết kịch bản phim truyền hình. Với những người bạn cùng tâm huyết, Hạnh thành lập nhóm biên kịch Nắng Sài Gòn – chuyên viết về những kịch bản lấy bối cảnh ở Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Nhóm Hạnh đã từng tham gia viết các phim: Gia đình số đỏ (40 tập – đạo diễn Văn Công Viễn – Công ty Đại Nam sản xuất), Cô nàng tóc rối (110 tập – đạo diễn Nguyễn Minh Chung, Hãng BHD sản xuất)… Hiện nay nhóm vẫn đang kiên trì sáng tác và sở hữu nhiều đề cương kịch bản (chưa sản xuất) với các đề tài lịch sử, tâm lý xã hội và đề tài mang hơi thở của cuộc sống tuổi trẻ thời hiện đại.

Hạnh tâm sự: “Trong Hạnh có nhiều cảm xúc mãnh liệt, nhưng khó thể hiện chúng bằng thơ. Có thể để chúng tan đi bởi chúng không có lợi cho chính mình và cho độc giả. Hạnh tự nhận biết trong tập “Nắng từ những ngón chân”, vai trò sáng tạo trong bản thân rõ rệt nhất. Ngày nay không thể bày tỏ những gì quá bi luỵ trong thơ, có thể làm đảo lộn đời sống của độc giả. Vì trước đó trong tập “Rơi ngược” Hạnh đã cảm thấy như vậy. Phải sau một thời gian dài làm thơ, Hạnh đã tin vào khả năng lựa chọn mỗi khi mình cầm bút và ước mong thơ của mình có khả năng “gạn đục khơi trong” dòng cảm xúc của độc giả. Mong độc giả đọc thơ mình đau, buồn, thương, nhớ đó nhưng sẽ hiểu bản thân họ và gia đình hơn qua thơ của mình. Từ đó, họ biết họ đang sống cho điều gì và biết quý trong hơn những niềm vui trong hiện tại…”

Như bài “Hạnh phúc từ những ngón chân” là tựa 1 bài thơ trong chươngKhoả thân tâm trạng, sau khi đi tìm qua nhiều thứ lớn lao và lý tưởng, người ta chỉ cảm thấy hạnh phúc khi quay về với chính mình, vui buồn với cơ thể mình, từ những mạch máu nhỏ hay từ những ngón chân “đẹp rạng ngời”… Bài “Là em”, tình yêu có thể vượt ra ngoài thể xác, khi đã chết, người ta yêu theo một cách khác, đằm thắm và “thật” hơn – động từ “chết” – Hạnh cũng sử dụng khá nhiều trong chương này. Như thể khi quá thương đau người ta sẽ biết được lúc bình an thì con người sẽ tốt biết chừng nào và quý trọng cuộc sống an hiện của mình hơn./.

Ngô Thị Hạnh

Thập Mục Ngưu Đồ ( Túy Phượng)

Tháng Bảy 17, 2011

Trâu Dầm Bùn, 15 x 20 acrylics Trần thị LaiHồng VIII-08

MƯỜI TRANH CHĂN TRÂU – Trần thị Lai Hồng

Thập Mục Ngưu Đồ

Dẫn Nhập : Tranh Chăn Trâu – Mục Ngưu Đồ – có từ thời Lão Tử xa xưa nhưng mãi đến thế kỷ thứ XII đời nhà Tống (960-1279) mới xuất hiện tại các thiền viện và ngay sau đó được coi là tiêu biểu Thiền Trung Quốc nói riêng và Thiền Đông phương nói chung, và được phổ biến rộng rãi từ Đông sang Tây, mặc dầu có nhiều khuynh hướng khác nhau. Phật học Đại Tự điển của cư sĩ Trù Ẩn Đinh Phúc Bảo bên Tàu (1873-1950) cho biết Mục Ngưu Đồ xuất xứ từ Kinh A Hàm Agamas – Thánh điển Phật giáo Nguyên thủy – nói về các cách chăn trâu, tức là cách tu tâm.

I- Về hình thức, Tranh Chăn Trâu Mục Ngưu Đồ có trên mười bộ khác nhau, có bộ chỉ 5 tranh, có bộ 12 tranh, nhưng phổ biến nhất là những bộ 10 tranh. Có bộ vẽ trâu đen hóa thành trâu trắng sau thời gian được chăn dắt. Nhưng hầu hết các bộ đều vẽ trâu đen. Mỗi bộ đều có bài tụng kèm theo mỗi tranh, nói về ý nghĩa từng giai đoạn.

Theo Thiền sư Daiseiz Teitaro Suzuki – Linh Mộc Đại Chuyết Trinh Thái Lang, học giả có công lớn truyền đạt Thiền tông sang Tây phương – trên thế giới có 4 loại Tranh Chăn Trâu, theo Đại Thừa và Thiền Tông, mỗi bộ lại có nhiều loạt tranh khác nhau (1) Bộ của Thiền sư Quách Am, (2) Bộ của Thiền sư Thanh Cư, (3) Bộ của Thiền sư Jitoku Ki (Tzu-te Hui), và (4) Bộ của một tác giả khuyết danh.

Bộ Tranh Chăn Trâu của Thiền sư Quách Am (1100-1200) đời nhà Tống gồm 10 tranh, được Thiền sư Vân Thê Chu Hoàng đời nhà Minh đề tựa năm 1585, mỗi tranh có một bài tụng của Thiền sư Phổ Minh, cũng từ Trung Quốc. Bộ tranh này được Thiền sư danh họa Nhật Tensho Shubun – Châu Văn – vẽ lại và nguyên bản toàn bộ được lưu giữ tại Đền Shokokuji, Kyoto, Nhật. Bộ tranh này được phổ biến rộng rãi khắp nơi, từ các Thiền viện Trung Quốc và Nhật bản, cho đến Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.

Bộ Tranh Chăn Trâu đến Việt Nam lúc nào không rõ, nhưng năm 1720, Thiền sư Quảng Trí thời vua Lê Dụ Tông (1706-1729), soạn tập Thập Mục Ngưu Đồ Luận Giải bằng Hán văn để nhà vua thẩm định. Tập luận giải này được chép lại khoảng thời Tự Đức(1847-1883) nhà Nguyễn. Năm 2,000, nhà xuất bản An Tiêm Paris ấn hành nguyên tác chữ Hán, có đầy đủ tranh và bài tụng, do cư sĩ Nhật Cao Trần Đình Sơn biên soạn, phiên dịch và chú giải.

Theo Thiền luận của Thư viện Hoa Sen, có thể xem vài bộ Tranh Chăn Trâu trong cuốn Le Judo International của Liên đoàn Nhu đạo Pháp, do Jagarin sao lục, có phần dịch thuật các bài tụng và chú thích; trong Phật học Tinh hoa của Thu Giang Nguyễn Duy Cẩn; trong pho sách cổ Mục Ngưu Đồ bằng chữ Hán tại thư viện Chùa Xá Lợi Saigon; trong tập Học Làm Phật của Thầy Trương Lạc, chùa Linh Chưởng ấn hành năm 1964.

Thượng tọa Thích Trí Quang trong bài Sơ lược về Tranh Chăn Trâu giới thiệu Tranh Chăn Trâu của Hòa thượng Kế Châu năm 1993, thời Vua Bảo Đại (1925-1945) cho biết Hội Phật học Huế có khắc mộc bản và in lại năm 1933, và có bài viết bằng tiếng Pháp đăng trên tạp chí Viên Âm số 7 của Hội nói về Mục Ngưu Đồ. Chùa Xá Lợi ở Sàigòn cũng có 10 tranh vẽ Thập Mục Ngưu Đồ. Ngoài ra, tại trụ sở Tam Tông Miếu đường Cao Thắng Saigon có Tranh Chăn Trâu vẽ sơn dầu ngay tại chánh điện.

Nhiều loạt tranh Chăn Trâu khác có thể xem trong Manual of Zen Buddhism, hay Essays in Zen Buddhism, hoặc The Ten Ox-herding Pictures của giáo sư Thiền học Daisetz Teitaro Suzuki, hoặc Zen Flesh, Zen Bones của Paul Reps và Nyogen Senzaki. Ngoài ra, có rất nhiều mạng lưới điện tử viết bài và đăng Thập Mục Ngưu Đồ, quý vị có thể xem một số ghi ở phần tài liệu tham khảo.

II- Về nội dung, Thư viện Hoa Sen có đăng bản dịch Thiền Luận Essays in Zen-Buddhism gồm ba tập do Trúc Thiên và Tuệ sỹ dịch, giải thích tất cả các bộ Tranh Chăn Trâu. Dẫu có nhiều khuynh hướng khác nhau, song tất cả cùng hướng về tu luyện tâm. Có thể nói nội dung Tranh Chăn Trâu giải đáp cho câu hỏi trong Kinh Kim Cương ” Vân hà hàng phục kỳ tâm?” (Làm sao làm chủ được cái tâm?)

Tu tâm, là tìm cách vén lộ tâm linh, dùng chính cái tâm lành vô lượng vốn có sẵn trong mình, chánh niệm, cứu xét, chế ngự cái tâm buông lung, điều phục, luyện thiện căn và giữ giới nghiêm nhặt. Căn bản tự chăn là giữ giới.

Sợi giây lòi tói buộc mũi trâu và cây roi là giới, nhằm gìn giữ, điều phục, tu luyện để tự phát, để đạt minh tâm kiến tánh, trí huệ sáng suốt, không vọng niệm, phát hiện bồ đề tâm, bồ đề hạnh, bồ đề trí, tâm hành bồ đề sự.

Đường lối tu luyện đi từ việc sai tâm lành bắt tâm lung, triển khai tâm hư tiến đến tâm vô tâm và bình thường tâm, ung dung an nhiên tự tại giữa đời.

Mười Tranh Chăn Trâu, như lời tựa của thiền sư Nyogen Senzaki trong tập Zen Flesh, Zen Bones, mang ý nghĩa sâu rộng hơn thi ca hay hội họa. Đó là sự khai thị giác nhộ tâm linh, hàm chứa trong bất kỳ thánh kinh nào của loài người.

***

Dưới đây là mười bài theo thể thơ mới do Trần thị LaiHồng thoát dịch từ nguyên bản tụng và qua những bản dịch của các vị tiền bối Việt Nam và Nhật bản nhưng vẫn theo sát nội dung những bài nguyên tụng và ý nghĩa từng bức tranh.

Mười bài tụng viết chữ Hán của Thiền sư Phổ Minh Trung Quốc, bản dịch tiếng Anh của Thiền sư Kaku-An Nhật, và mười Tranh Chăn Trâu, thủy mạc của Trần thị LaiHồng.

1- Tầm Ngưu

Mang mang bát thảo khứ truy tầm

Thủy khoát sơn dao lộ cánh thâm

Lực tận thần bì vô xứ mịch

Đản văn phong thụ vãn thiền ngâm

1- Tìm Trâu

Rẽ cỏ rậm

luẩn quẩn loanh quanh

núi thẳm xanh xanh

sông sâu ngăn ngắt

đường xa lăng lắc

ta lao đao thân xác – kiếm tìm đâu?

chỉ nghe ngân nga vang vọng giọng ve sầu …

1- Searching for the Ox

Alone in the wilderness, lost in the jungle,

the boy is searching, searching!

The swelling waters, the far-away mountains,

and the unending path;

Exhausted and in despair, he knows not

where to go,

He only hears the evening cicadas singing in the maple-woods.

*

2- Kiến tích

Thủy biên lâm hạ tích thiên đa

Phương thảo li phi kiến dã ma

Túng thị thâm sơn cánh thâm xứ

Liêu thiên tị khổng chẩm tang tha

https://i2.wp.com/i84.photobucket.com/albums/k35/nguyenrachel/VoDinh/LaiHongTrau5.jpg

2- Thấy dấu

Ven rừng

bờ sông rành in dấu móng

vạch cỏ um tùm

đạp rạp bụi lùm

núi thẳm dẫu còn xa tăm tắp

hốt thấy ngươi

mũi hếch lên trời – thách thức

2- Seeing the traces

By the stream and under the trees, scattered are the traces of the lost

The sweet-scented grasses are growing thick – did he find the way?

However remote over the hills and far away the beast may wander

His nose reaches the heavens and none can conceal it

*

3- Kiến Ngưu

Hoàng oanh chi thượng nhất thanh thanh

Nhật noãn phong hòa ngạn liễu thanh

Chi thử cánh vô hồi tị xứ

Sâm sâm đầu giác hoạch nan thành

https://i0.wp.com/i84.photobucket.com/albums/k35/nguyenrachel/VoDinh/LaiHongTrau7.jpg

3- Thấy Trâu

Cao vút trên cành

lảnh lót giọng hoàng oanh

nắng ấm

gió lành

bờ liễu xanh

ngươi chẳng đường lui ẩn

dậm cẳng ngoắc sừng bất khuất

3- Seeing the Ox

On a yonder branch perches a nightingale cheerfully singing

The sun is warm, and a soothing breeze blows, on the bank the willow are green

The ox is there all by himself, nowhere is he to hide himself

The splendid head decorated with stately horns – what painter can reproduce him?

*

4- Đắc Ngưu

Kiệt tận thấn thông hoạch đắc cừ

Tâm cường lực tráng tốt nan trừ

Hữu thời tài đáo cao nguyên thượng

Hựu nhập yên vân thâm xứ cư

https://i1.wp.com/i84.photobucket.com/albums/k35/nguyenrachel/VoDinh/LaiHongTrau9.jpg

4- Bắt Trâu

Kéo

Trì

Rị

Vật

Xỏ mũi

Quất roi

rượt đồi cao sương phủ

đuổi lũng thấp mây mù

Vất vả!

Chật vật!

rồi cũng bắt được ngươi!

4- Catching the Ox

With the energy of his whole being, the boy has at last taken hold of the ox

But how wild his will, how ungovernable his power!

At times he struts up a plateau,

When lo! He is lost again in a misty un-penetrable mountain-pass!

*

5- Mục Ngưu

Tiên sách thời thời bất ly thân

Khủng y túng bộ nhạ ai trần

Tướng tương mục đắc thuần hòa dã

Ki tỏa vô câu tự trục nhân

https://i1.wp.com/i84.photobucket.com/albums/k35/nguyenrachel/VoDinh/LaiHongTrau11.jpg

5- Chăn Trâu

Túm chặt giây roi giắt bên người

ngại ngươi tuôn lấm bụi trần ai

vỗ về thân ái

nào dìu

nào dắt

hò rì hò tắt

ngươi thuần hòa theo sát chân ta

5- Herding the Ox

The boy is not to separate himself with his whip and tether

Lest the animal should wander away into a world of defilements;

When the ox is properly tended to, he will grow pure and docile

Without a chain, nothing binding, he will by himself follow the oxherd

*

6- Kỵ Ngưu Quy Gia

Kỵ ngưu mạt trấp dục hoàn gia

Hà địch thanh thanh tổng vãn hà

Nhất phách nhất ca vô hạn ý

Tri âm hà tất cổn thần nha

https://i0.wp.com/i84.photobucket.com/albums/k35/nguyenrachel/VoDinh/LaiHongTrau13.jpg

6- Cỡi Trâu về nhà

Cỡi lưng ngươi về nhà

nhàn nhã thả vi vu điệu sáo

một nhịp

một ca

ta hòa đồng tâm ý

đâu nào tri âm?

6- Coming Home on the Ox’s Back

Riding on the animal, he leisurely wends his way home

Enveloped in the evening mist, how tunefully the flute vanishes away!

Singing a ditty, beating time, his heart is filled with a joy indescribable!

That he is now one of those who know, need it be told?

*

7- Vong Ngưu Tồn Nhân

Kỵ ngưu dĩ đắc đáo gia san

Ngưu dã không hề, nhân dã nhàn

Hồng nhật tam can do tác mộng

Tiên thằng không đốn thảo đường gian

https://i1.wp.com/i84.photobucket.com/albums/k35/nguyenrachel/VoDinh/LaiHongTrau15.jpg

7- Quên Trâu Còn Người

Vầng đông hồng

lồng lộng ba sào còn say mộng

liệng giây

quăng roi

Ơ …ngươi đâu rồi?

Ờ …mà lòng ta lại thật thảnh thơi…

7- The Ox Forgotten, Leaving the Man Alone

Riding on the animal, he is at last back in his home.

Where lo! The ox is no more! The man alone sits serenely

Though the red sun is high up in the sky, he is still quietly dreaming

Under a straw-thatched roof are his whip and rope idly lying

*

8- Nhân Ngưu Câu Vong

Tiên sách nhân ngưu tận thuộc không

Bích thiên liêu khoát tín nan thông

Hồng lô diễm thượng tranh dung tuyết

Đáo thử phương năng hợp tổ tong

https://i0.wp.com/i84.photobucket.com/albums/k35/nguyenrachel/VoDinh/LaiHongTrau17.jpg

8- Tâm Vô Tâm

Giây roi – sợi lòi tói

ngươi

và ta

thôi vướng mắc ràng buộc

tâm không tâm – tâm thả buông

thanh thản cội nguồn

Trời vẫn xanh

mà tin chẳng thông

trong lò hồng ánh lửa

tuyết giá khó đọng bông

8- The Ox and the Man Both Gone out of Sight

All is empty – the whip, the rope, the man, and the ox

Who can ever survey the vastness of heaven?

Over the furnace burning ablaze, not a flake of snow can fall

When this state of things obtains, manifest is the spirit on the ancient master

*

9- Phản bản Hoàn nguyên

Phản bản hoàn nguyên dĩ phí công

Tranh như trực hạ nhược manh lung

Am trung bất kiến am tiền vật

Thủy tự mang mang hoa tự hồng

https://i2.wp.com/i84.photobucket.com/albums/k35/nguyenrachel/VoDinh/LaiHongTrau19.jpg

9- Trở Về Nguồn Cội

Nhọc công tìm/thấy

trả lại không

như kẻ điếc mù trong am vắng

không tìm không bắt

mà thấy

dòng sông dào dạt tự mênh mông

hoa an nhiên hơn hớn tự hồng

9- Returning to the Origin, Back to the Source

To return to the Origin, to be back at the Source – already a false step this!

Far better it is to stay at home, blind and deaf, and without much ado,

Sitting in the hut, he takes no cognizance of things outside

Behold the streams flowing – whither nobody knows,

And the flowers vividly red – for whom are they?

*

10- Nhập Triền Thùy Thủ

Lộ hung tiền túc nhập triển lai

Mạt thổ đồ khôi tiếu mãn tai

Bất dụng thần tiên chân bí quyết

Trực giáo khô mộc phóng hoa khai

https://i0.wp.com/i84.photobucket.com/albums/k35/nguyenrachel/VoDinh/image021.jpg

10- Vào Chợ Đời

Ngực trần

chân không

bùn đất lội chợ đời

sảng khoái ngoác miệng cười

đâu cần thần tiên bí quyết

cành khô nẩy nụ tươi

10- Enter the City with Bliss-bestowing Hands

Bare-chested and bare-footed, he comes out into the market-place

Daubed with mud and ashes, how broadly he smiles!

There is no need for the miraculous power of the Gods,

For he touches, and lo! The dead trees are in full bloom!

Sinh nhật thứ 75 của Võ Đình

Hoa Bang, tháng X/XI – 2008

Trần thị LaiHồng

Tài liệu tham khảo và đọc thêm

– Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia, Thập Mục Ngưu Đồ, Google

– Daiseiz Teitaro Suzuki, Essays in Zen Buddhism, Rider& Company, London, 1961; Manual of Zen Buddhism, Eastern Buddhism Society, 1935

– Đông Lan, AN VI và Tranh Thập Mục Ngưu Đồ, An Việt Toàn Cầu,http://www.anviettoancau.net/html/capnhat_14/donglan_tmnguudo.htm

– Nhất Cao Trần Đình Sơn, dịch Thập Mục Ngưu Đồ Luận giải từ Hán văn của Quảng Trí Thiền sư, nxb An Tiêm Paris, 2000

– Nyogen Senzaki, Like a Dream, Like a Fantasy, The Zen Writings and Translations, Wisdom Publications, 2005

– Paul Reps và Nyogen Senzaki, Zen Flesh, Zen Bones, Charles E. Tuttle Publishing, Co. Inc. , 1957

– Thích Tuệ Sỹ, Tranh Chăn Trâu Đại Thừa Thiền Tông, Trung tâm Nuôi dạy & Hướng nghiệp Trẻ Mồ Côi& Khuyết Tật, http://thiennguyen.org/vie/index.php?act=memory&CODE=Content&ID=37

– The Search for the Bulls, http://members.tripod.com/professor_tom/bull/bull1.html

– Thiền sư Thích Thanh Từ, dịch và giảng Tranh Chăn Trâu,http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-tranh-chantrau/ix.htm

– Thượng tọa Thích Trí Quang, Nói Sơ lược về Mục Ngưu Đồ (Tranh Chăn Trâu) tựa sách của Thượng tọa Kế Châu, Huế, 1993 http://www.phatviet.com/kechau/tctsolu.htm

– Trần Sĩ Lâm, dịch Cốt Nhục của Thiền – Zen Flesh Zen Bones – , nxb Phương Đông, hoặc vào xem http://www.Tuechung.com/ hay vào mạng

http://www.lien-hoa.net/CotNhucCuaThien.html

– Trúc Thiên và Tuệ Sỹ, Thiền Luận, dịch Essays in Zen Buddhism, Phật học Viện Quốc tế xuất bản, Paris, 1989, có đăng trên Thư viện Hoa Sen http://www.thuvienhoasen.org/thienluan.htm

– Yokoo Tatsuhiko, The Ten Ox-Herding Pictures, Terebess Asia Online (Tao) http://www.terebess.hu/english/oxherding.html

– Gyokusei Jikihara, Oxherding Pictures, Zen Mountain Monastery,http://www.mro.org/zmmold/zenarts/ozherdinggallery.html

– English translations from poems by Kaku-an, Chinese poems by Kuo An Zhe, The Ten Oxherding Pictures of Zen: Serie 2,http://www.hsuyun.org/Dharma/Zbohy/VisualArts/OxHerdingPictures/oxherdìng.html

Trần Lê Túy Phượng chuyển bài

Triết lý “tĩnh tâm”

Tháng Bảy 16, 2011

Nhiều người hay đi chùa chiền, lễ hội, vừa để cầu mong sự an khang, thịnh vượng, phát lộc, phát tài, vừa là một thú vui du ngoạn. Thiết nghĩ, cũng nên bàn về triết lý “Tĩnh tâm”.

“Tĩnh tâm” là kệ của nhà Phật, là một triết lý của đạo Phật. Một trong những đoạn nổi tiếng của kệ “Tĩnh tâm” được nói như sau:

…Danh, lợi, thế, quyền như bọt nước,
Tiền tài, vật chất tợ (tựa) sương sa,
Trăm năm không đạo, gây thêm tội,
Một kiếp biết tu, khỏi lạc đường.

Đạo Phật quan niệm: Danh vị trong xã hội, lợi lộc, quyền thế, chức tước đáng xem nhẹ như bọt nước, chỉ xủi lên như bọt nước mà thôi; tiền tài và vật chất cũng chỉ như sương sa, như một hơi nước, một cái bóng mờ. Con người không biết tu dưỡng đạo đức, chỉ gây thêm tội lỗi; nhưng nếu biết tu thân, tích đức thì mới trở nên người tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Triết lý “Tĩnh tâm” của đạo Phật được đúc kết qua thực tiễn hàng nghìn năm, có giá trị văn hóa, giá trị nhân văn và nhân đạo rất sâu sắc, cao rộng; bởi nó khuyên con người biết sống lương thiện, biết làm những điều có nghĩa, có nhân!

Cốt lõi của “Tĩnh tâm” là “tu tâm” – tức là sửa đổi lòng mình, để cho “tâm” được yên tĩnh, trong sạch và thanh thản, thoát khỏi những cám dỗ của đời thường và những ham muốn trần tục bất chính. “Tu tâm” cũng chính là “tu thân” – như quan niệm tích cực của Nho giáo, nghĩa là luôn luôn biết sửa mình, để bản thân ngày càng trở nên tốt đẹp, có ích cho chính gia đình mình và cho xã hội, đất nước.

Trong cuộc sống xưa nay, nhiều người đã noi theo được lời dạy tiến bộ của đạo Phật: Không ham hưởng thụ, không ham tiền tài, danh vọng, lợi lộc bất chính. Các bậc danh sĩ nước ta, như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu, v.v.. là những tấm gương tiêu biểu, cực kỳ sáng láng về quan niệm sống “Tĩnh tâm”.

Song, rất đáng tiếc, đáng buồn là ngày nay, rất nhiều người ham đi chùa chiền, chăm cầu nguyện, nhưng lại sống trái ngược với triết lý “Tĩnh tâm” của đạo Phật!

Họ không chịu “tu tâm”! Họ cốt sống vị kỷ, vô cảm với những khó khăn, vất vả của cộng đồng và thờ ơ với lợi ích quốc gia, dân tộc. Họ chạy theo danh vị, tiền tài, vật chất, lợi lộc, ham muốn hưởng thụ bằng mọi cách, mọi giá. Chia rẽ đoàn kết, trù dập người tài, người lương thiện để bon chen vào chức quyền. Làm ăn giả dối, buôn bán gian lận, điêu toa. Ham đua đòi hưởng thụ, ham tiền, ham vật chất mà cướp của, giết người, trộm cắp, lưu manh. Rồi những thói côn đồ hung hãn, quậy phá, bất chấp đạo lý và luật pháp; v.v..

Tóm lại, tất cả những chuyện bất lương – suy cho cùng – đều là do không biết “tĩnh tâm”, không tu thân, tích đức. Chao ôi, đã bất lương thì đến chốn chùa chiền, lầm rầm khấn vái Trời Phật, phỏng có ích gì?

Vậy nên, “Tĩnh tâm” không phải là biểu hiện của triết học duy tâm, siêu hình, siêu thoát. “Tĩnh tâm” không phải là lối sống vị kỷ, thoát ly xã hội, chạy trốn trách nhiệm công dân. “Tĩnh tâm” cũng không phải là lối “sống chậm” (trái ngược với lối sống gấp – tức là lối sống hiện sinh, lối sống thực dụng tầm thường) như một số người lầm tưởng.

“Sống chậm” chỉ là cách sống không vội vàng, thuần túy sinh học – đâu phải theo quan niệm “Tĩnh tâm”!

Trái lại, “Tĩnh tâm” là một tư tưởng tiến bộ của đạo Phật, có ý nghĩa triết học duy vật biện chứng sâu xa, thể hiện mục đích sống thanh cao, tu thân, tích đức, luôn luôn sửa mình để sống cho trong sạch và ham làm việc giúp ích cho quốc gia, dân tộc.

Và như vậy, thật tuyệt vời – “Tĩnh tâm” tương đồng với khái niệm “thật thà tự phê bình” mà chúng ta thường nói hiện nay. Triết lý “Tĩnh tâm” chính là một vẻ đẹp văn hóa rất cao cả – vừa là văn hóa tâm linh, vừa là văn hóa thiết thực của mỗi Con Người chân chính và của cuộc sống muôn đời!
Đào Ngọc Đệ
VĐPP Theo: Quân đội Nhân dân

KHÓA TU MÙA HÈ CHO TUỔI TRẺ

Tháng Bảy 15, 2011


Tu viện Bát Nhã NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thôn 13, Đamb’ri
Bảo Lộc, Lâm Đồng
ĐT: 063.3751518
THÔNG BÁO
KHÓA TU MÙA HÈ CHO TUỔI TRẺ LẦN 2
Nhằm tạo điều kiện cho tuổi trẻ tìm hiểu Phật pháp và trau dồi đời sống tâm linh. Mùa hè năm nay, Tu viện Bát Nhã sẽ tổ chức Khóa tu cho tuổi trẻ lần 2 trong 07 ngày (từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 07 năm 2011 – nhằm ngày 17 đến ngày 23 tháng 06 năm Tân Mão). Trong suốt thời gian diễn ra khóa tu, ban giáo thọ sẽ thuyết giảng các đề tài phật pháp thiết thực trong cuộc sống tuổi trẻ, hướng dẫn tụng kinh, tọa thiền, niệm Phật và các sinh hoạt khác trong đời sống tâm linh ở chùa.
Chủ đề khóa tu: Phật giáo – Tuổi trẻ hướng tới tương lai.
Thời gian khóa tu: bắt đầu từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 07 năm 2011.
Đối tượng tham gia: tất cả thanh thiếu niên từ 12 đến 30 tuổi.
Yêu cầu:
+ Phải đem theo bản photo của giấy CMND hoặc giấy khai sinh hoặc thẻ học sinh, sinh viên.
+ Ăn mặc lịch sự (nếu có điều kiện vui lòng đem theo 1-3 bộ đồ lam và áo tràng lam), mang theo đồ dùng cá nhân (quần áo, kem và bàn chải đánh răng…).
+ Phải nộp giấy đăng ký với Ban Tổ Chức trước một tuần hoặc đăng ký qua email: tvbatnha@yahoo.com hoặc ĐT : 063.3751518 063.3910388
Xin mời tham khảo thêm các thông tin của khóa tu tại Website : tuvienbatnha.org
Để để khóa tu có kết quả tốt đẹp, Ban Tổ Chức rất mong các bậc phụ huynh khuyến khích con em đăng ký tham dự khóa tu.
Bát Nhã, ngày 23/ 05 / 2011
Viện chủ
Thượng tọa Thích Đức Nghi
NỘI DUNG SINH HOẠT – TU HỌC KHÓA TU
CHỦ ĐỀ“PHẬT GIÁO – TUỔI TRẺ HƯỚNG ĐẾN TƯƠNG LAI” Lần 2
TẠI TU VIỆN BÁT NHÃ
——————————–
Tu Viện Bát Nhã tổ chức Khóa tu mùa hè 2011 lần 2 dành cho đối tượng thanh thiếu niên từ ngày 17 đến ngày 23/7/2011.
Thời khóa sinh hoạt và tu học hằng ngày như sau:
4g30 : Thức dậy
5g00 : Ngồi thiền – tụng kinh
5g30 : Thể dục
6g00 : Ăn cơm sáng
7g00 : Kinh hành
8g00 : Nghe giảng Phật Pháp ( hoặc các đề tài đạo
đức, môi trường, xã hội…)
10g00 : Sinh hoạt Văn Thể Mỹ
11g00 : Ăn cơm trưa
12g00 : Nghỉ trưa
13g00 : Thức dậy
13g30 : Thảo luận hoặc vấn đáp Phật Pháp
16g00 : Thể dục thể thao (hoặc sinh hoạt ngoại khóa)
17g00 : Ăn cơm chiều
19g00 : Ngồi thiền – tụng kinh
20g00 : Sinh hoạt theo Tổ, Nhóm
21g30 : Nghỉ ngơi
TỔNG QUÁT KHÓA TU
BAN TỔ CHỨC
KHÓA TU “PHẬT GIÁO – TUỔI TRẺ HƯỚNG ĐẾN TƯƠNG LAI” LẦN 2
TẠI TU VIỆN BÁT NHÃ
—ooOoo—
Chứng Minh
Hòa Thượng Viện Chủ Thích Đức Nghi
Hòa thượng chứng minh Thích Giác Hạnh
Trưởng ban:
Đại đức Thích Đồng Tâm
Phó ban:
Đại đức Thích Đồng Hạnh
Đại đức Thích Đồng Định
Đại đức Thích Đồng Tịnh
CÁC TIỂU BAN
1. Ban Giáo Thọ:
Đại đức Thích Đồng Bổn (Trưởng ban)
Đại đức Thích Trí Huệ
Đại đức Thích Thiện Thuận
Đại đức Thích Đồng Tâm
Đại đức Thích Chánh Tín
Đại đức Thích Đồng Văn
Đại đức Thích Đồng Hạnh
Đại đức Thích Khiêm Cung
Thạc sĩ Tâm Lý Học Nguyễn Thị Tâm
TU VIỆN BÁT NHÃ:
***

Cũng là vô tình, trên đường ghé thác Dambri Bảo Lộc chơi, tự dưng chạy ngang qua Tu Viện Bát Nhã – một nơi đã nghe danh từ lâu nhưng chưa có dịp ghé. Xin được miễn bàn luận về những việc liên quan đến Bát Nhã, chỉ muốn giới thiệu với mọi người một số cảnh đẹp của Bát Nhã hiện tại để mọi người chiêm ngưỡng.

Không rõ có phải là sự sắp xếp của thiêng liêng hay không, vì sau khi đi viếng một loạt các chùa to, Phật lớn, đẹp lộng lẫy, uy nghi – thì nơi tôn nghiêm cuối cùng tôi ghé lại là Bát Nhã. Để phải chứng kiến một cảnh trái ngược với những gì “hoàn hảo” đã thấy. Khi loay hoay lễ Phật ở Bát Nhã, tự dưng tôi lại nhớ đến lời dạy của thầy Thiện Huệ: “Phật ở ngoài là Phật sự. Phật trong tâm là Phật lý. Tu Phật thì phải tu tâm. Tin Phật là phải tin vào cái tâm lành, tâm thiện…

Xin được mượn “tạm” ý bài thơ Các vị La Hán chùa Tây Phương của Huy Cận để nói phần nào cảm xúc của mình khi ghé qua Bát Nhã…

Các vị La Hán chùa Tây Phương
Tôi đến thăm về lòng vấn vương.
Há chẳng phải đây là xứ Phật,
Mà sao ai nấy mặt đau thương?









Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
tin và ảnh theo:

http://tuvienbatnha.org/site/?pg=51&mn=11&ms=1103&id=3

tìm hiểu thêm:

Đón gió xuân ở thiền viện Bát Nhã

titleBát Nhã là tên phiên âm từ chữ Prajnâ trong tiếng Sanskrit (Ấn Độ cổ) có nghĩa là trí tuệ. Đến đây du khách sẽ tìm được cho mình một cõi tĩnh lặng, trầm tư. Nếu theo lối tam quan, du khách lên tới chánh điện. Nhưng nếu đi theo cổng phụ, nơi có tảng đá khắc tên Bát Nhã bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh, tiếng Sanskrit… để dẫn lối vào tu viện, du khách sẽ bước vào một rừng thông dịu mát để đến nhà khách. Có những buổi sớm, khi sương chưa kịp tan, còn đọng lung linh nơi đầu ngọn lá, cứ như những giọt ngọc đẹp tinh khiết đến tuyệt vời.

Ngay trước thiền đường này là một công trình đầy ý nghĩa và thu hút lòng người: công viên mang tên Bông hồng cài áo được tạo dáng như một đoá hoa hồng mà mỗi thảm hoa cỏ chính là một cánh hoa. Tại trung tâm là tượng đài một người mẹ đang dắt tay hai con hướng về phía trước, được tạc bằng đá trắng, dáng vẻ rạng ngời hạnh phúc.

alt
Cổng tam quan
alt
Xung quanh thiền viện là đồi chè

Talt
Trong khuôn viên công viên Bông hồng cài áo

Vào lúc sáng sớm, du khách còn có thể tham dự buổi thiền hành cùng với các thiền sinh khác tại đây. Mọi người sẽ chầm chậm bước theo lối đi ven đồi, men theo bờ thác suối, giữ cho lòng thanh lặng. Không khí trong lành và thiên nhiên tươi đẹp chung quanh sẽ đem lại cho du khách những phút giây yên bình trong tâm hồn.

*Thông tin cần biết

-Đường đến tu viện Bát Nhã: Từ thị xã Bảo Lộc, đi hướng khu du lịch thác Đamb’ri khoảng 15 cây số, nhìn bên tay trái bạn sẽ thấy Tu viện.

-Những vật dụng cần mang theo khi đến thiền viện Bát Nhã: Khí hậu vùng cao nguyên thường trở lạnh về đêm và sáng sớm, bạn chuẩn bị túi ngủ hoặc chăn mền, áo ấm, khăn quàng cổ, nón, đèn pin, áo quần và vật dụng cá nhân. Để tham dự lễ hội Vui Xuân Bói Kiều bạn nên mang theo trang phục truyền thống Việt Nam như áo dài, khăn đóng, áo tứ thân…

CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH VÀ THỰC TẬP THIỀN


Chương trình Du lịch và thực tập Thiền (Tu viện Bát Nhã, ngày 28/02&01/03/2009) Bạn thân mến! Du lịch và thực tập Thiền tại Tu Viện Bát Nhã là chương trình dành cho tất cả các bạn, không phân biệt bạn theo tôn giáo nào, là nơi để bạn được nghỉ ngơi, được sống với thiên nhiên và những con người thân thiện, để được thư giãn và tìm về với chính mình. Mời bạn tham gia Chương trình Du lịch và thực tập Thiền tại Tu viện Bát Nhã, Bảo Lộc, chi tiết như sau: Nội dung chương trình : Du lịch, thực tập Thiền Địa điểm :Tu viện Bát Nhã, Bảo Lộc, Lâm Đồng Thời gian :Thứ Bảy, 28/02 & 01/03/2009 (02 ngày) Ban tổ chức :Nhóm Vẻ đẹp Phật Pháp Chi phí (dự kiến) : 200.000đ. (nộp khi bạn lên xe) Địa điểm tập trung :Cổng chùa Phước Viên, ngã tư Hàng Xanh (Có chỗ gửi xe) Thời gian tập trung :6h30, :Thứ Bảy, 28/02/2009 (Vui lòng đến đúng giờ để ổn định và xuất phát đúng giờ) Những lưu ý cần thiết: – Nhớ mang theo chứng minh nhân dân để đăng ký tạm trú qua đêm (bản photocopy cũng được). – Khí hậu vùng cao nguyên thường trở lạnh về đêm và sáng sớm, các bạn chuẩn bị áo ấm, khăn quàng cổ, nón, đèn pin, áo quần và vật dụng cá nhân. Và mùa này thời tiết còn mưa nên cũng cần mang theo áo mưa, dù, nón lá. – Không hút thuốc, không mang theo các trò chơi điện tử, đồ dùng quý giá, thức ăn mặn. – Khi vào khuôn viên tu viện, các bạn có điện thoại vui lòng tắt máy hoặc để ở chế độ rung. – Bạn có thể tùy hỷ ủng hộ cho tu viện (tiền rau đậu, điện, nước,…) gửi cho ban tổ chức hoặc gửi trực tiếp cho tu viện. Ghi chú: Thông tin giới thiệu về Bát Nhã: http://www.sgtt.com.vn/Detail40.aspx?ColumnId=40&NewsId=36212&fld=HTMG/2008/0623/36212

VĐPP theo:

http://khamphadalat.com/thong-tin-du-lich-da-lat/khu-tham-quan-vui-choi/381-don-gio-xuan-o-thien-vien-bat-nha.html

SUỐI NGUỒN HẠNH PHÚC ( Kỳ 1)

Tháng Bảy 13, 2011

Thích Phước Đạt

Giữa cơn lốc biến động xã hội đầy kịch tính của cuối thế kỷ 20, trước sự sụp đổ của con người đối với các vấn đề khủng hoảng sinh thái tâm linh và môi trường, mùa Phật lại trở về như nguồn suối hạnh phúc chảy vào tâm thức mọi người.
Thật ra, đấng Thế Tôn không phải Đản sanh trong vườn Lâm Tỳ Ni xứ Ấn Độ cách đây 2500 năm về trước, mà đức Phật thị hiện trong lòng chúng ta từng giờ, từng giây phút, mỗi ngày. Bởi vì chúng ta là những người sinh ra, lớn lên, trưởng thành theo lý tưởng sống với Ngài, cùng đi chung với Ngài về lộ trình giải thoát mọi sự khổ đau đang đè nặng lên thân phận kiếp người. Nếu văn hào Shakespeare khởi đầu bằng tiếng nói con tim: “Yêu và được yêu là điều hạnh phúc nhất đời”, thì đức Phật tuyên bố sự hiện hữu của Ngài giữa cuộc đời với mục đích: “Ta ra đời vì an lạc, lợi ích cho chư Thiên và loài người, vì lòng thương tưởng đời”. Do đó, nơi nào có sự Đản sanh của đức Phật, nơi đó có tiếng nói yêu thương, tiếng nói tình người thể hiện. Như con tim nắm giữ sinh mệnh của một đời người, thì tình người nắm giữ sinh mệnh sự sống, linh hồn văn hóa của dân tộc, quốc gia. Cho nên, sự kiện đức Phật đản sanh là dự kiện khởi đầu thông điệp tình thương và hạnh phúc:
“Khó gặp được Như Lai
Không phải đâu cũng có
Chỗ nào đức Phật đản sanh
Nơi đó tất an lạc” (Pháp Cú 193)
Thông điệp ấy đã đi vào tâm thức mỗi người, khi cánh cửa “giải thoát” bắt đầu mở sau khi 49 ngày đêm tư duy thiền định dưới cột Bồ đề, Ngài trở thành bậc Chánh đẳng giác. Từ đây, Ngài tuyên bố: “Cửa vô sinh bất diệt, đã mở cho tất cả chúng sanh. Hãy để cho ai có tai muốn nghe được hưởng trọn niềm tin tưởng”. Như vậy, đạo Phật là đạo đến mà thấy, thấy sự thật khổ đau cuộc đời và con đường đoạn tận khổ đau được khởi đầu bằng những bước chân đầu tiên:
“Ai quy y đức Phật
Chánh pháp và chư Tăng
Ai dùng Chánh tri kiến
Thấy được bốn Thánh đế
Thấy khổ và khổ tập
Thấy sự khổ vượt qua
Thấy đường Thánh tám ngành
Đưa đến khổ não tận” (Pháp Cú 190-191)
Đây chính hiện thực của cuộc đời mà tự thân mỗi người phải vượt qua lộ trình đi về “Tự ngã” giữa sa mạc hoang vu từ trong tâm tưởng của cái “Tôi” tràn đầy. Những danh tướng hão huyền hư vô phân biệt, nghĩa vô nghĩa, những danh sắc, vật chất, tiền tài trói buộc cần được phá vỡ bằng con đường khởi đầu bằng sự tu tập theo giáo lý của Ngài. Chúng ta nên biết rằng những sở hữu mà chúng ta nắm giữ là không phải của chính mình, phải nên biết rằng những cái mà chúng ta đang nắm giữ chỉ đến với chúng ta khi duyên đến và mất đi khi duyên tan. Chính đức Phật từng tuyên bố: “Cái này không phải là ta, của ta, và tự ngã của ta”. Từ trong thực tánh duyên khởi đi ra, nhờ công phu tu tập cá nhân, Ngài đã trở thành bậc giác ngộ hoàn toàn. Chúng ta cũng là con người, nếu biết nương vào đức Phật, nương vào chánh pháp để tu tập thì cũng trở thành những con người giác ngộ như Ngài. Bởi vì con người là chủ nhân ông của mỗi người, tự thân giải quyết sự hạnh phúc an lạc cho chính mình, không ai có thể thay thế được. Chính đức Phật từng khuyến cáo các đệ tử của mình:
“Tự mình điều ác làm
Tự mình làm nhiễm ô
Tự mình ác không làm
Tự mình làm thanh tịnh
Tịnh, không tịnh tự mình
Không ai thanh tịnh ai” (Pháp Cú 165)
Tại đây, đức Phật đã khẳng định vai trò và vị trí của con người là do tự thân cá nhân quyết định. Trong tất cả giá trị có mặt ở đời, con người là giá trị cao nhất. Mọi thứ giá trị đều là phương tiện cho con người và cuộc sống của con người. Vấn đề lý tưởng tối cao và ý nghĩa cuộc sống thực chất là vấn đề hạnh phúc. Hạnh phúc thực sự có mặt khi tự thân mỗi người phải vắng mặt cội nguồn tham sân si, xuất phát từ lòng tham dục, như đức Phật dạy:
“Từ tham dục nảy mầm đau khổ
Từ tham dục nảy mầm sợ hãi
Với ai thoát khỏi vòng tham dục
Thì không còn đau khổ, không còn sợ hãi” (Pháp Cú 215-216)
Kinh nghiệm tự thân tu tập của đức Phật, chúng ta thấy rõ điều này. Từ một Thái tử Tất Đạt Đa sống trong cung vàng điện ngọc, Ngài xả bỏ tất cả để lên đường tu tập 6 năm khổ hạnh. Từ bỏ lối tu khổ hạnh, tu tập thiền định phát triển trí tuệ, Ngài đã trở thành bậc Chánh đẳng giác, giác ngộ hoàn toàn. Trong 45 năm thuyết pháp độ sanh, Ngài từng tuyên bố: “Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống hồ là phi pháp”. Đây chính là thái độ xả ly hoàn toàn mà mỗi chúng ta cần phải đi qua trên con đường trở về tự tánh giác ngộ. Thực chất của khổ đau đều bắt nguồn từ sự khát ái, chấp thủ. Vô minh phiền não, quá khứ u buồn vang vọng từ cõi lòng sầu bi khổ ưu não được dập tắt, khi tự thân mỗi người hướng tới sự tu tập tâm thức và hành trì pháp như Ngài:
“Những ai hành trì pháp
Theo chánh pháp thực hành
Sẽ đến bờ bên kia
Vượt ma lực khó thoát” (Pháp Cú 86)
Cho nên, vấn đề hạnh phúc được thực thi bắt nguồn từ sự chuyển hóa tâm thức để đạt sự bình an nội tại. Tại đây, xu thế nội tại từ trong tâm tưởng đòi hỏi phải lớn lên, phát triển, mở rộng, vì mỗi tâm hồn đều có khả năng linh diệu để chuyển hóa, vận hành. Đức Phật từ một con người thực tại, nhờ công phu tu tập chuyển hóa nội tâm mà trở thành con người sống trong thế giới hạnh phúc thực sự, bởi vì Ngài đã tự chuyển hóa nội tâm của mình:
“Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo
Nếu với ý thanh tịnh
Nói lên hay hành động
An lạc bước theo sau
Như bóng không rời hình” (Pháp Cú 2)
Rõ ràng, hạnh phúc mà con người hướng đến không phải là điều gì nằm ngoài tầm tay con người. Hạnh phúc là sự phát triển hoàn toàn đầy đủ các đức tánh của con người, thông qua sự tu tập về thân khẩu ý:
“Không làm các điều ác
Thành tựu các việc lành
Giữ tâm ý trong sạch
Đó là lời Phật dạy” (Pháp Cú 186)
Đây cũng chính là con đường tu tập theo Giới-Định-Huệ, hướng tới những giá trị hạnh phúc đích thực giữa cuộc đời. Sự kiện đức Phật đản sanh là bức thông điệp hạnh phúc bước ra thế giới khổ đau, đánh thức sự hướng tâm vào thế giới an lạc của sự vận hành, xa rời sự chấp thủ và khát ái. Một chân trời tự do mở ra cho những ai còn khát vọng về hạnh phúc, giải thoát mọi khổ đau cuộc đời. Nơi đây, từ trái tim đến trái tim trong suối nguồn giáo lý đức Từ phụ thấm nhuần từng cõi lòng mọi người. Thật đúng là:
“Hạnh phúc thay, đức Phật giáng sinh
Hạnh phúc thay, giáo pháp cao minh
Hạnh phúc thay, chúng Tăng hòa hợp
Hạnh phúc thay, tứ chúng đồng tu”. (Pháp Cú 194)
Thích Phước Đạt
Sài Gòn, mùa Phật Đản



































Trà thơm Họp mặt

Tháng Bảy 12, 2011

Mặc Phong Giang

Không gian lắng động hòa lẫn tiếng côn trùng giữa căn phòng đầy thi vị của thầy Hồng Chơn, các anh chị em Trà thơm đã có cơ hội ngồi lại với nhau trong không khí thân mật và đượm tình đạo vị. An Lạc, một ngôi chùa nằm khuất mặt đường …, Q. Thủ Đức, vị trí này đã làm nơi đây trở nên vắng lặng, yên tĩnh như một miền quê êm ả khi chiều buông.
Xoay vần trong cuộc sống và công việc cùng một chút chí nguyện như là hành trang để chúng tôi bôn ba chốn phố thị hoa lệ và hào nhoáng, chúng tôi đã gặp nhau trong lẽ sống, thông qua chén trà sớm hôm hòa quyện chút hương trầm cùng chất liệu hiểu và thương sâu lắng trong mỗi người. Căn phòng không rộng lắm nhưng không gian thật thênh thang, cho tôi một cảm giác thật sự bình an lạ thường. Mở đầu cho buổi họp mặt, thầy Hạnh Đạo đã chia sẻ về ý tưởng thành lập quỹ Trà thơm và họp mặt định kỳ hàng tháng, ý kiến đã được mọi người hoan hỷ đón nhận. Tuy nhiên để sự họp mặt mang tính cách có tổ chức, quý thầy, quý cô đã đóng góp thêm nhiều thiện ý thiết thực. Tiếp nối không gian ấm áp là lới ca tiếng hát của chư huynh đệ, tuy âm điệu không du dương trầm bỗng như một ca sĩ thực thụ nhưng mỗi ca từ đều chứa đựng nhiều giá trị như một thông điệp mà mọi người nhắn gửi cho nhau nhân buổi họp mặt. Bên ngoài hoa lá đang reo cười với gió, tiếng dế, tiếng ếch nhái và tiếng đàn đang hòa quyện vào nhau như một bài ca bất tận về sự sống muôn màu muôn vẻ khi màng đêm buông xuống. Ánh đèn leo loét chợt nhảy múa theo tiếng nhạc Trịnh không lời, màng đêm đã phủ kín một góc trời từ bao giờ. Là người nhỏ nhất trong nhóm, ngoài đóng góp sự có mặt và lắng nghe quý sư anh, sư chị chia sẻ tôi chẳng biết làm gì. Gặp lại nhau trong không khí thắm thiết nghĩa tình thật là những khoảng khắc quý báu cho mỗi thành viên, sự có mặt của sư chị Phước Tâm và Chơn Nghiêm từ Thái Lan về là nhân duyên cho buổi họp mặt lần này. Dù thời gian trong mùa An cư rất hạn hẹp nhưng mọi người đã đến tương đối đầy đủ, điều này chính là năng lượng nuôi dưỡng cho các anh chị em ở xa. Dù gặp nhau chẳng để làm gì ngoài chén trà và chuyện trò vài câu cùng đôi lời thăm hỏi nhưng tôi cảm thấy rất cần trong cuộc sống bây giờ. Gặp nhau để rồi xa nhau như một lẽ sống mà ai ai cũng phải chấp nhận, vậy mà giây phút ấy không khỏi bùi ngùi lưu luyến.

Để kết lại buổi họp mặt, mọi người đã đồng ý gặp nhau định kỳ vào mỗi chủ nhật cuối tháng (Tây lịch )và xây dựng quỹ Trà thơm trong tinh thần hoan hỷ và trách nhiệm. Dù thời gian rất ít và còn rất nhiều tâm sự chưa được sẻ chia nhưng bấy nhiêu đó cũng đã thể hiện được tình huynh đệ mà mọi người dành cho nhau. Cuộc hành trình sẽ lại tiếp tục, cuộc vui nào rồi cũng tàn theo thời gian, chỉ có tình người là còn mãi trong lòng nhau. Mọi người chào nhau ra về, lòng như lưu luyến một chút gì thân thương ấp áp như chén trà mà thầy Hồng Chơn đã pha mời chư huynh đệ. Chia tay chùa An Lạc, chia tay quý thầy cô, xe chúng tôi hòa vào dòng người đang tấp nập ngược xuôi sau một ngày vất vả, tiếng côn trùng dần khuất trong đêm…

TGP theo Trathomonline


YÊU MỘT CÕI ĐỜI ĐÃ MẤT !

VIỄN DU

Đêm đã về khuya… nhưng chưa hẳn là khuya lắm, mấy anh em tôi vẫn đang ngồi trên Độn Cao để đợi trăng lên, đợi chờ một cuộc trở về, hay đợi chờ một câu trả lời…
Nhưng tất cả từ từ cũng rơi vào tận cùng tuyệt vọng để mặc nỗi buồn không tên gọi xâm chiếm tâm khảm mình lúc nào không hay.

Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại
Cuộc tình nào đã ra khơi ta còn mãi nơi đây
Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ
Ôi những dòng sông nhỏ lời hẹn thề là những cơn mưa
Tình xa_ Trịnh Công Sơn.

Ngoài kia những con sóng nhỏ cứ vỗ bờ rì rào và êm dịu làm sao, nhưng con sóng trong lòng tôi mỗi lúc một lớn dần, những ưu tư mâu thuẫn trước nẻo về của sự sống đã tạo ra một sự va chạm rất mạnh trong tâm hồn, nó làm cho tôi chỉ biết ngồi yên đó, thẩm thấu nỗi buồn dưới ánh trăng mà không sao thốt nên lời… Cái cảm giác vừa buồn vừa tiếc nuối pha lẫn một chút giận hờn trong tôi mới khó tả làm sao. Tôi chỉ muốn đứng dậy để la một tiếng thật to, thật dài. Hình ảnh “sầu hồ lô” lạy Thầy Tổ để trở về lại “ mái nhà xưa” cứ ám ảnh tôi hoài… Em đang gặp khó khăn gì vậy? Tại sao Em không muốn tiếp tục con đường này nữa? Hay đơn giản là một đoạn cuối của một cuộc tình-giấc mơ giờ chỉ mới bắt đầu.

Làm sao hiểu từng nỗi đời riêng
Để yêu thêm yêu cho nồng nàn
(Như một lời chia tay_TCS)

Có thể quyết định này của em sẽ để lại nhiều dư âm trong lòng mọi người, với muôn vàn lý do và suy nghĩ về những gì đã, đang hay sẽ xảy ra trong cuộc sống. Thật khó để hiểu về một người dù đó là kẻ tri âm của mình. Tri âm tạm coi là người hiểu mình nhưng có đôi lúc chúng ta còn không thể hiểu được mình thì làm sao hiểu được cái bóng của đời mình. Đúng là “ có những niềm riêng làm sao nói hết” vả lại khi mình đã hiểu “ từng nỗi đời riêng” thì liệu mình có còn yêu người một cách nồng nàn nữa không. Hay là “đừng xô tôi ngã dưới chân người”. cuộc truy tìm nguyên nhân trong tôi chấm dứt như rứa đó, bạn cũng có thể đưa ra một quyết định cho những tháng ngày còn lại ít ỏi của mình. Cuộc sống hay tình yêu cũng vậy! đôi khi có những điều không thể lấy ngôn ngữ để chia chẻ mà phải dùng tâm hồn để hiểu mà sống hay đơn giản chỉ để cảm nhận rồi ngậm ngùi ,để được khóc như trẻ thơ. Và xem đó như một nốt trầm trong bản hùng ca của kiếp người.

Vì em đã mang lời khấn nhỏ”, lời khấn nhỏ giờ đây không còn sự trách móc của lòng ích kỉ hẹp hòi nữa mà đã thoát thai thành lời kinh cầu cho những tháng ngày còn lại của em. Và anh biết giông bão đang chờ em ở phía trước và dù tôi có đứng bên đời kia nhưng vẫn có em trên những tháng ngày đã qua. Dù có những thứ sẽ không bao giờ còn xuất hiện, nhưng nó vẫn còn nằm đâu đó trong kí ức dĩ vãng, để rồi một ngày nào đó chợt ùa về chật chội cả con tim, khi tình cờ ta thấy thấp thoáng hình bóng cố nhân…

Có kẻ hôm nay bước giữa đời
Nhớ lời từ biệt nhớ đầy vơi
Lật trang kí ức tìm kỉ niệm
Chiều mang thương nhớ trĩu xuống đời

Chùa Tổ – nơi ấy cõi về! khoảng thời gian mười năm tuy chưa phải là dài đối với sự biểu hiện của con người, nhưng chừng đó thời gian để chúng ta có thể hiểu được sự có mặt cho nhau của một con người, hay những vui buồn của thời ấu thơ mãi theo ta đi đến cuối cuộc đời. Và trên con đường bạn đang đi có lúc bạn sẽ dừng chân tạm nghỉ, rẽ trái, rẽ phải hay cũng có lúc lộn lại đường cái chính, chẳng nhẽ vì một lí do đó mà bạn biến mất hay sao? Dù em có biểu hiện dưới hình thức nào đi nữa thì em mãi tồn tại trong lòng huynh đệ. Anh hi vọng những gì học hỏi được ở trong đạo sẽ là hành trang và tư lương cho cuộc sống của em.
Trăng giờ đã về ngôi, khép lại một thời để nhớ, mở ra một lối về. Hãy sống và yêu cho hết lòng bạn nhé đừng bao giờ đến lúc một cõi đời đã mất mới chợt nhận ra…

Cố Đô 26/6/2011










Ý thức bình minh

Tháng Bảy 10, 2011


Hạnh Phương

Mỗi sớm mai khi vừa trở giấc, trong trạng thái bâng khuâng mơ màng giữa mộng và thực, giữa sự sống và cái chết, giữa lãng đãng chiêm bao và trần trần hiện thực…, ngay giây phút đầu tiên ấy của một ngày, chúng ta hãy bắt đầu lôi kéo tâm thức chúng ta, quy hướng sáu căn, tám thức chúng ta vào một đường hướng rõ ràng, cụ thể, dứt khoát. Đoạn tuyệt với phân vân, nghi tình, huyễn hoặc; rướn người duỗi thẳng hai chân, trở mình nằm ngửa, hai tay chấp lên giữa ngực, tư thế hoa sen đang nở, đánh thức dậy lòng khát khao ngưỡng mộ chào đón ánh bình minh huy hoàng, chào đón rạng đông rực rỡ đang ùa tới quanh ta. Nàng công chúa Bình Minh với đôi tay mầu nhiệm đang ban phát ánh sáng, đang chan rưới nguồn hồng ân sự sáng và sức sống dạt dào cho ta và tất cả vạn vật muôn loài chung quanh ta.

Quán chiếu hiện tại, trước mắt chúng ta đang có từng giây, từng phút, trong veo, an lạc, hạnh phúc. Sự sống, sức sống tưởng chừng tê liệt, im lìm trong giấc đông miên lung linh mầu ảo đang hồi sinh nhịp nhàng, nguồn sinh lực trong veo thuần khiết của vũ trụ đất trời cuồn cuộn trào dâng, ùa về… dâng hiến chúng ta.

Ngay giữa từng phút giây trong lành, óng ánh, thơm tho, những giây phút đẹp nhất trong ngày của đời người, chúng ta cần đánh thức dậy lòng biết ơn vô tận, lòng ngưỡng mộ vô biên đối với Tam bảo: với Phật, với Pháp, với Tăng.

Việc cụ thể cần làm ngay, làm lập tức không chậm, không trễ là quán niệm quy y Tam bảo, trở về nương tựa Ba ngôi tối thượng. Chúng ta chí thành chí thiết đọc những câu kinh Pháp Cú này từ ba đến mười lần, càng nhiều hơn nữa càng tốt:

“Nương dựa vào Phật

Nương dựa vào Pháp

Nương dựa vào Tăng

Nương dựa như vậy

Thì có một sự

Thấy biết chính xác

Thấy biết chân lý

Gồm đủ bốn chi

Của lời Phật dạy”.

(PC 190 – Trí Quang thượng nhân dịch)

Điều quan trọng nhất là chí thành chí thiết bày tỏ cho được lòng quy kính ngưỡng mộ cao rộng vô biên, sâu đậm vô cùng đối với Tam bảo. Khởi lên được tâm niệm nương dựa Tam bảo như vậy chúng ta thấy ngay được hiệu ứng tức thì, thành quả tất yếu của việc chúng ta đang làm:

“Nương dựa Tam bảo

Mà được như vậy

Thì là an toàn

Thì là tối thượng

Vì sự nương dựa

Tam bảo như vậy

Thì làm cho ta

Thoát khỏi lo phiền”

(PC 192 – Trí Quang thượng nhân dịch)

Chúng ta ý thức lập tức lòng quy kính vô biên đối với Tam bảo. Chúng ta tuyệt đối tin tưởng và nhận thức rõ ràng, thấy rất rõ ràng hồng ân Tam bảo trong từng sát na, từng giây phút bao trùm phủ khắp chung quanh sắc thân ngũ uẩn chúng ta, tâm thức chúng ta.

Chúng ta phát khởi niềm tin chân chánh tuyệt đối rằng không có hồng ân Tam bảo chở che thì mình đã khó có nhân duyên tốt đẹp, chẳng có đủ công đức để được đầu thai làm người.

Không có túc duyên tốt đẹp, không có công đức có thể chúng ta đã là trâu ngựa rắn rít, có thể đã là sâu bọ côn trùng, có thể đã là cánh phù du mỏng manh, con đôm đốm lập lòe giữa trường dạ vô minh, hằng hà sa số kiếp biết đâu là bến bờ giác ngộ.

Thân người khó được, nhờ hồng ân Tam bảo ta có được thân người, được sống đến hôm nay, được sống đến bây giờ, được thực tập hạnh từ bi, mở lòng thương yêu vô tận đến muôn vật muôn loài. Rồi mai kia ngước nhìn trời xanh mây trắng, nhắm mắt ra đi, chúng ta sẽ được chết trong sự trong sáng, nhẹ nhàng, thanh thản, không lo âu sợ hãi, không ma đưa lối, không quỷ đưa đàng… Chỉ có hào quang chư Phật trùm phủ lấy ta.

Thắp sáng ý thức bình minh như thế từ giây phút đầu tiên của mỗi một bình minh, chúng ta đã có một thứ hành trang cụ thể cho chúng ta cất bước lên đường thể hiện cuộc sống. Đi vào ngay với hành trang mầu nhiệm ấy, mỗi 24 giờ từng ngày của chúng ta sẽ là 24 giờ tinh khôi, 24 giờ trong veo, óng ánh như kim cương, như châu ngọc. Và ta có quyền vốc lấy từng vốc đầy ắp trong hai bàn tay chúng ta.


TIẾNG ĐÁ THÌ THẦM

Tháng Bảy 9, 2011

TIẾNG ĐÁ THÌ THẦM

Kính tặng sư anh Tuyết Sơn!

Giữa trời sương trắng gió ngàn

Mây lam núi biếc bước chân thì thầm.

Mấy dòng dãi nắng tri âm.

Gởi theo suối hát trăng ngâm ngõ thiền.

Ngày về hoa tuyết rừng thiên.

Nụ cười rực sáng trong miền tịch liêu.

Gót chân như mũi kim thêu

Đêm trăng non nước hưởng điều vô biên.

Thầy về cấy lại mùa sen,

Cho bông thơm ngát cho đèn ngàn sao.

Tiếng thơ cuồn cuộn nương cao,

Gió lay trúc biếc xôn xao chốn nào.

Nghe như lời hát ca dao,

Lòng đầy dịu mát Thầy trao ngọt ngào.

Thầy về gầy lại trăng sao,

Cho tình thêm ấm rót vào nguồn thơ.

La Vang – Thầy Pháp Bảo

LÁ THƯ GIAO MÙA

Bao năm mong đợi, ngày 17 tháng 04 năm 2005 con rời xa Huế, bỏ lại Phật Học Đường vào Bát Nhã. Một thân một mình đi tìm trái tim cho cuộc sống.

Nhìn lại, từ ngày con vào đây sống, có núi rừng rợp lối đi, suối thác nước trong hơn, lòng người mộc mạc đơn sơ. Cái nhìn đó của con như ánh mắt ngây ngô dễ thương của bé con. Con đã hòa vào nguồn sống của Tăng thân lúc nào không hay.

Chúng con được An cư mùa đông tại Bát Nhã lần đầu tiên. Theo như anh em con cảm nhận, rất khác, rất mới, so với các trường hạ mà chúng con An cư trước đây. Buổi đầu, trong lễ Đối thú an cư, chúng con không khỏi bỡ ngỡ. Buổi đối thú không có nghi lễ, chuông trống Bát Nhã, không có chú Đại Bi, tán tụng hay mõ, tang. Ở đây chỉ có không khí yên lặng và lời phát nguyện. Con nhìn sâu vào hơi thở của mình. Tự nhiên trong lòng con biết ơn Bụt, biết ơn giáo pháp, biết ơn Sư Ông. Kể từ giây phút đó, tâm Bồ Đề rộng mở, niềm tin được lớn mạnh. Con đi từng bước vững chãi bên Tăng thân, đã mười năm qua con chưa từng được đi như thế.

Niềm hạnh phúc của chúng con dâng tràn theo từng ngày ở Bát Nhã. Nguyện ước con bây giờ sống dậy, thực tập mở lòng ra, tiếp cận những gì đang có mặt cho thân và tâm.

Sau ngày Cổ Phật khất thực tại Bảo Lộc, con lại được cùng An cư lần thứ 2 với đại chúng tại Bát Nhã. Đó là may mắn, là duyên lớn cho con. Đối với con – một người tu trẻ – mơ ước Việt Nam sẽ có nhiều trung tâm như vậy. Con cùng với huynh đệ từ các đạo tràng khác, khi trở về Bát Nhã thực tập chánh niệm, sống với nhau chung một mái nhà tâm linh. Thật là một diễm phúc cho đời tu của con.

Cách đây hơn 2550 năm, Đức Thế Tôn đã có những mùa an cư tại xứ ấn Độ với hơn 1250 vị khất sĩ, sống theo tinh thần lục hòa, hết lòng thể hiện nếp sống thương yêu. Đời sống hiểu thương mà Bụt đã từng dạy, con thấy Tăng thân đang đi theo con đường ấy. Con đường chuyển hóa. Từ những bữa cơm, từng bước chân lồng trong hơi thở chánh niệm, đó là sự tiếp nối mang nhiều hoa trái cho đời.

Tu Viện, là học đường, là Phật học viện mà bao năm tháng con rong ruổi kiếm tìm, chỉ có tình huynh đệ luôn đi mãi với thời gian.

Buổi soi sáng cuối mùa an cư, vì chưa có khả năng tiếp nhận lầm lỗi, vụng về yếu kém của mình. Con luôn có tâm trạng phản kháng khó chịu. Đôi khi con nổi sân đỏ cả mặt, phải nửa tiếng sau mới thấy yên trong tâm để nhận diện được và có sự biến chuyển. Trái tim mới mở rộng thêm ra. Những năng lượng thái quá, những tập khí ấy dần được chuyển hóa nhờ huynh đệ hết lòng yểm trợ. Nhờ vậy, qua hai mùa an cư, con được lớn lên từng ngày trong sự chở che, nâng đỡ của Tăng thân.

Con hy vọng rằng, với tinh thần an cư như thế này, nơi đây sẽ là mạng lưới kết nối, giúp cho bao Tăng sĩ trẻ có một hướng đi. Họ và con có trong nhau, muôn triệu trái tim cộng trú, mang cho đời cho đạo hơi thở Hiện Pháp Lạc Thú.

Nguyên Phong – Thầy Pháo Bảo

theo themtrangsadi

RỒI TA CŨNG THẾ

Tháng Bảy 7, 2011

Kính dâng Linh Giác Cụ Ông Pháp Danh Nguyên Tánh.
“Lên non học đá tham thiền
Khơi nguồn tuệ uyển biết mình là ai?
Ta về biển, học tình yêu của sóng,
Người từ đâu, xin chở hạt chân như”!
Ở đời, sinh ký 60 năm giữa chốn hồng trần là chuyện vòng quanh một kiếp người, còn là sự trăn trở của muôn triệu người muốn hàm dưỡng, cho đến khi sinh tử đến bên ta một tháng ngày.
Cụ Ông! Tôi biết tới Người vào sáng gió xuân, trời cao, mây trắng và hương tết Tân Mão, vẫn còn nồng ấm trong chiếc cụi và ngăn tủ thờ đầy khói hương của căn nhà bên vách cồn cát, trước nhà còn có những con đò đang thả hồn trên bến nước Tam Giang. Sân trước, vườn sau Người trồng những vồn cải xanh rờn và hàng hoa Vạn thọ nở rộ màu huỳnh y. Đời sống Người cũng gần giống loài hoa Vạn thọ, luôn luôn hiếu kỳ, thanh bạch và thanh thản tự nhiên. Vạn thọ không bon chen, ích kỷ mà biết hy sinh và tận tâm chăm sóc các thế hệ tiếp nối. Trải qua biết bao biến thiên, thăng trầm thế nhưng Người vẫn vững tay lái. Vượt ngàn sông mê thách thức của thế gian, Người một lòng biết giữ mình, giữ đạo, giữ vai trò người lái đò, để chống chọi mọi cuộc phôi trần đổi thay khó nhọc. Hơn chín mươi tuổi, cái tuổi hơn Cổ thập lai hy, sương sáng gió chiều. Với Người, với thánh tâm cao thượng, Người đọng lại từng giọt nắng chiều trên Bến đò Cà Cút, Người lưu lại dấu chân nơi bãi biển Quảng Công vô vàn kỷ vật tình người. Tình vạn thọ ở đâu đó xin nở muôn ngàn cánh hạt, đợi sẵn chở Người qua sông Ái hà đến nơi có mấy triệu vì sao, vô số cõi ngân hà Lạc quốc.
Trăm nghìn lời xưng tụng công hạnh, sự nghiệp, ánh dương Đạo của Người biết mấy cho đầy vơi, chút tình trong muôn một ấy! Qua chuyến về thiêng cổ.
“Mất sau hút bóng thiên đàng
Một khung trời nhỏ lá vàng chợt rơi
Người ngồi giữa cuộc đổi thay
Nghe sông núi cạn phút giây vô thường”.
Vào những ngày đầu xuân, ban thị giả Cổ Pháp Sài Gòn, Huế, thầy Pháp Mãn, Pháp Bảo, Phật tử Nguyên Niệm đã trở về quê hương của Người để khánh tuế và vấn an sức khỏe. Như mỗi mùa tết, gốc Anh đào trước hiên nhà luôn trỗ hoa, khai lộc sum xuê, tỏa hương diều dịu của buổi đầu giao thời nhưng không hiểu tại sao, cây đào năm nay chỉ ra đúng chỉ một đóa dưới cổ mộc. Cánh hoa cũng lạ hơn bao giờ hết? Người nói quá cô quạnh và tủi hờn cho Mùa xuân!
Thật vậy, cánh cửa độc môn sinh tử “ Hoa nở ta về…” chính người đã cảm nhận và chắp tay đón lấy chiếc áo mới, bỏ lại tứ đại vô sắc nơi biển nghiệp mênh mông này ấy thôi. “Thầy con” thân tử của Người cũng thường hay chia sẻ: “ Buồn chi Ôn hè, cái chi rồi cũng để lại cho cuộc đời, mình chỉ mang theo những gì như trước đây Phật dạy, Phật làm mà thôi! Trời rồi cũng bỏ được, mất, thành bại, tổ tiên rồi cũng xa lìa ngũ uẩn. Còn bởi nhân thế này muốn tồn tại cái mà người ta ưa quá nên cứ đắm chìm trong luân hồi nghiệp đạo mãi thôi Ôn hè?”
Ôn đáp lời, “thân có vay, có trả. Đã sinh ra tức đã mang rất nhiều ân nặng, nghĩa tình nhưng Niệm câu Nam Mô A Di Đà Phật là tan biến hết phải không Thầy?”. hoa Vạn thọ thì vẫn luôn ở bên Người, mùi hương của chúng thì thơm ngát, thoang thoảng như hương trầm mới xông ướp, còn Hoa Anh đào, cái cây mà Người trồng cũng bỏ xa hơn 60 năm đất trời. Thế nhưng cây vẫn thẳng đứng bất động giữa dòng đời giông tố biến động. Như Người vậy, lúc nào cũng từ tốn, biết mình, biết ta và nhìn thấy luôn cả thời cuộc để mà sống còn với bản thể “ Nhân- Lễ- Nghĩa- Trí- Tín”. Dòng sông có bao giờ trở lại vì vốn dĩ đời người thì có đến có đi. Người cũng cần mẫn với bóng chiều tà hay thủy triều lên xuống bất như ý. Ở độ tuổi như Người mà lúc nào cũng còn nhớ hai chữ Vô Thường tự tại bên ngực ái. Người luôn luôn khởi nguyện, thắp sáng con đường tịnh độ hiện tiền và tịnh độ tha lực ngay trong cuộc sống thường ngày để thăng hoa đời sau và vô lượng kiếp mà Người sẽ kết duyên bạn lữ ở mười phương Chư Phật.
Người rồi cũng thế, ta rồi cũng thế mà cả trần gian này rồi cũng thế. Xin kính thưa Người !…

Huế, sen nở mùa hạ
10.06.2011
T. Pháp Bảo