Trịnh đi cũng là về !

Huế chay/…

Nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn luôn trung thành với giọng Huế, và chính ca sĩ Khánh Ly xác nhận, trong thời gian chàng thanh niên họ Trịnh ở Đà Lạt: “Dân Đà Lạt, đa số nói tiếng Huế hơi lai, nhưng Sơn là “Huế chay”.
Từ ngày đất nước thống nhất, tôi đã đi nhiều miền của đất nước, được thưởng ngoạn nhiều thắng cảnh, sinh hoạt phong phú, được thưởng thức nhiều món ăn… lại còn thích thú nghe được giọng nói của các vùng, các địa phương. Đây cũng là một khám phá nếu mình đi tàu Thống Nhất, dịp con tàu mới nối chiều dài Bắc Nam, những giọng nói khác nhau trên mỗi chặng hành trình, từ khách đi tàu, từ những người buôn bán, từ những tiếng rao hàng.
Giọng nói gắn với con người và được sử dụng tự nhiên như là hơi thở, bình thường ít mấy ai quan tâm, nhưng khi đi xa lâu ngày thì nó trở thành nỗi nhớ nhung chi lạ. Thời còn trẻ, tôi đã xa Huế. Một lần bất chợt nghe radio: “Đây là đài phát thanh Huế…” từ giọng nói của cô xướng ngôn viên giọng Huế, tôi ngẩn ngơ nhớ xứ Huế quê mình, mà thật lạ, bình thường ở Huế thì tôi không để ý, nhưng lần đó nghe giọng nói răng mà trong trẻo, dễ thương, nhẹ nhàng như vậy.
Đi xa, càng xa Huế mà bắt gặp giọng Huế thì như gặp được bạn cố tri. Đến Phú Quốc theo một tour du lịch, trong tâm trạng háo hức thưởng ngoạn hòn đảo tận phía Nam đất nước, được trò chuyện với người địa phương nói giọng miền Nam truyền thống của những người khai phá, chợt lắng lòng bâng khuâng khi anh hướng dẫn viên du lịch, vốn hoạt náo với khách, đến tâm tình với mình về gốc gác Huế bằng giọng Huế như mình.
Hay một lần đến chợ Đà Lạt, đang sử dụng tập tểnh một thứ giọng miền Nam trao đổi với người bán thì được “đáp lễ” bằng một giọng Huế chính hiệu, tôi cảm thấy vừa “quê” vừa vui, nhưng đúng là vui cùng quê vì tôi và người bán hàng cùng tâm đắc quê Huế.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn luôn trung thành với giọng Huế. Ảnh: sctv.com.vn
Giọng Huế gắn liền với một kho tàng ngôn từ dân gian Huế được truyền khẩu qua bao thế hệ, như hình với bóng. Giọng Huế là đặc trưng của văn hóa Huế, con người Huế. Đó là nền tảng của loại hình nghệ thuật: hò Huế, ca Huế, ngâm thơ Huế, hát bội Huế. Người nghe biết cảm nhận: Cái gì ra cái đó, không thể giọng nào khác mà ca Nam Ai, Nam Bình, cũng như không thể giọng Bắc mà ca ngọt cải lương…
Ngay trong ca khúc hiện đại, giọng Huế vẫn có nét riêng: nữ ca sĩ Hà Thanh sáng giá một thời nhờ giọng Huế trong trẻo, truyền cảm; nữ ca sĩ Vân Khánh vẫn thu được cảm tình của đông đảo quần chúng khắp mọi miền nhờ giọng Huế ngọt ngào, dễ thương. Về nhạc điệu trong giọng Huế thì tôi không để ý, nhưng nữ ca sĩ Khánh Ly – gốc Bắc – nhận xét: “Con gái Huế nói như hát …”[1]. Đúng là giọng Huế có gì đặc sắc nên nghi thức tán tụng kinh Phật theo giọng Huế có sức cuốn hút người dự trở về tâm thanh tịnh, xa rời phiền não.
Giọng Huế theo người con gái đi về nhà chồng nơi xa, như là của hồi môn văn hóa phi vật thể. Cũng như thế, những người con Huế, đi định cư ở những phương trời xa lạ hàng mấy chục năm, khi trở về sau ngày đất nước thống nhất, sau khi tay bắt mặt mừng, được bà con khen: “Giỏi hí! Răng mi xa Huế lâu mà vẫn nói giọng Huế ngon lành rứa?”.
Giọng Huế là một đặc sản của ngành du lịch Huế. Du khách đến Huế rất thích thú nếu tiếp xúc với nhiều người nói giọng Huế, từ hướng dẫn viên du lịch niềm nở đến cô tiếp tân khách sạn ân cần, cô nghệ nhân ca Huế ngọt ngào đến các chị bán hàng khéo chào mời ở chợ Đông Ba… Cái đọng lại sau chuyến đi thăm Huế thế nào cũng có dư âm giọng Huế.
Việc giữ giọng nói địa phương là một việc tự nhiên, phần lớn từ cha sinh mẹ đẻ, hoặc từ vùng đất mà mình sinh ra, trưởng thành và học tập, làm ăn sinh sống. Việc chuyển đổi giọng nói hoặc luân chuyển sử dụng giọng nói do nhu cầu giao thiệp, sinh sống là một việc bình thường. Nhiều ca sĩ người Huế nổi tiếng toàn quốc, chỉ sử dụng giọng Huế của mình khi về quê hương, còn thì trên sân khấu ca nhạc giao lưu với khán giả mọi miền vẫn ngon lành giọng Bắc.
Nhưng nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn lại khác: luôn luôn trung thành với giọng Huế, và chính ca sĩ Khánh Ly xác nhận, trong thời gian chàng thanh niên họ Trịnh ở Đà Lạt: “Dân Đà Lạt, đa số nói tiếng Huế hơi lai, nhưng Sơn là “Huế chay””[2].
“Chay” là gì? Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học năm 2006 ghi những nghĩa như mọi người hiểu của “chay”, “ăn chay”, “cơm chay”, “bánh chưng chay”, “lập đàn làm chay”, “chay tịnh”, và thêm nghĩa: “Không có cái bổ trợ để làm cho tốt hơn”, dẫn chứng “thửa ruộng cấy chay” (không bón phân) – những từ này miền Nam không phổ biến -, “dạy chay” (không có đồ dùng giảng dạy, thí nghiệm minh họa) – hai từ này quen thuộc quá đối với thầy cô giáo, phổ biến toàn quốc từ năm 1975 -; ngoài ra, không có từ “chay” theo ý nghĩa của tiếng hoặc giọng nói.
Thế nào là “Huế chay”? Đó là giọng nói Huế thuần túy, không pha giọng khác, của người sinh ra, lớn lên và sống tại Huế. Xin trích một đoạn văn tôi đọc tình cờ trên mạng của một chàng già đời, lãng tử để gọi là cho vui: “Tui là dân Huế chay, tức là Huế 100%, Huế từ trong ra ngoài, Huế đến nổi ra Bắc vào Nam, lên vùng cao nguyên tắm đủ sông hồ ao lạch mà cũng không gột rửa chất Huế trong người”.
Nhưng vì sao chỉ nghe nói đến Huế chay mà không nghe Hà Nội chay, Sài Gòn chay, Bình Định chay? Người Bắc xác nhận có giọng Hà Nội thuần túy, nhưng không ai gọi Hà Nội chay mà chỉ gọi Hà Nội gốc. Phải chăng từ “chay” trong Huế chay là từ đặc biệt của Huế, phổ biến cách đây không lâu (nhưng chắc chắn là trước thời kỳ mà người ta dùng những từ như: chay, mặn, của chùa theo ý khác, có tính cười cợt, châm biếm?). Từ “chay” này có liên hệ gì với chuyện chay, mặn trong ăn uống? Chắc không ai nghĩ thế, nhưng có thể nào “chay” trong giọng nói và “chay” trong ăn chay có một liên kết? Phải chăng cả hai cùng thể hiện mặt sinh hoạt trong con người Huế bình thường?
Trước đây, hầu như mọi người Huế là có tôn giáo, phần đông là Phật tử, vì thế chuyện ăn chay là phổ biến, có người thì trường trai, người thì thập trai, tứ trai,… phổ biến là nhị trai (ngày rằm, mồng một). Trong hai ngày nhị trai đó, Huế khác hẳn ngày thường: nhà nhà lau chùi bàn thờ, chuẩn bị hương hoa cúng Phật, cúng ông bà; đa số cửa hàng ăn thì chuyển sang bán đồ chay hoặc tạm nghỉ, các chùa và niệm phật đường thì trang nghiêm chuông mõ, kinh kệ,… Trầm hương đốt thơm ngát mười phương. Nhưng đó là Huế của một thời bất an vì chiến tranh.
Ngày nay, Huế an bình trong một đất nước an bình, đời sống vật chất và tinh thần có những bước phát triển, khởi sắc, dân cư đông đúc hơn. Tuy thế, vì thành phần dân cư có nhiều thay đổi, có nhiều gốc gác nên có nhiều lựa chọn trong đời sống tinh thần, tâm linh, và vì thế, dầu người theo Phật vẫn đông nhưng sự thể hiện trong xã hội của Phật Giáo không còn đậm nét như trước.
Dẫu hoàn cảnh nào đi nữa thì việc ăn chay truyền thống nói lên một lối ẩm thực lành mạnh và một nét văn hóa đẹp đẽ của đất cố đô, một cách ăn để sống văn minh nhất trong thời đại ngày nay, khi nhân loại thấy nguy cơ sống thô bạo với thiên nhiên, sử dụng kỹ thuật đưa đến ô nhiểm môi trường, gây ra bao nhiêu biến chứng: dịch lở mồm long móng, H5N1, bò điên, kích thích tăng trọng, kích thích cây trồng, nhiểm kháng rầy, dư thừa phân đạm trong rau xanh,…
Ngày nay, ăn chay không có nghĩa là ép xác, cực khổ (ăn chay nằm đất!), trái lại, ăn chay vẫn bổ dưỡng, ngon lành mà không cần cầu kỳ; hơn nữa, người nấu có đạo tâm nên đảm bảo tinh khiết – một yêu cầu cao nhất đối với người dùng chay. Những anh chàng dân dã: mít, vả, bắp chuối, măng,… cùng với các cô nàng hạt sen, nấm, mè, đậu, cà,… được vinh danh từ các bữa cơm chay gia đình, các bữa ngọ trai nhà chùa, cho đến các bữa tiệc chay tiếp tân sang trọng.
Thời gian sau này, thức ăn chay (và ăn kiêng) được bổ sung bằng thực phẩm chế biến sẵn, đặc biệt từ Đài Loan, làm thỏa mãn yêu cầu vừa sang trọng vừa tiện dụng, tuy nhiên, theo thiển ý, ăn chay theo lối Huế truyền thống vẫn giàu vị thanh, chất tươi, và “đạt đạo” hơn. Tác giả và đạo diễn tiệc chay truyền thống Huế là ai?
Tôi không chuyên nghiên cứu về vấn đề này, tôi chỉ nhớ (rất thiếu sót) một số vị nữ lưu tài hoa, Huế chay: trước đây là nhà giáo Hoàng Thị Kim Cúc, dạy nữ công gia chánh trường Đồng Khánh, huynh trưởng Gia Đình Phật Tử uy tín; ngày nay là nhà giáo Mai Thị Trà, doanh nhân Hoàng Anh – Phú Xuân…; tất cả đều có công trình biên soạn có giá trị về các món chay.
Cái gì bèo bọt rồi sẽ qua đi, cái gì tinh túy thì ở lại. Huế chay vẫn còn đó, để đi đến đích cao hơn về thân, khẩu, ý: thân thể nhẹ nhàng, lời nói tốt đẹp, trí tuệ minh mẫn.
CAO HUY HÓA
[1] Khánh Ly, Nổi buồn nhớ quê hương, bút ký
[2] Nổi buồn nhớ quê hương, bút ký

Đi cũng là về!

ĐỖ HỒNG NGỌC

Có người hỏi tôi có phải Trịnh Công Sơn là một thiền sư không mà sao cứ thấy tôi nhắc và trích dẫn ca từ của anh trong các bài viết về Thiền, về Phật pháp của tôi?

Với tôi, Trịnh Công Sơn không chỉ là một “thiền sư” mà anh còn là một vị “Bồ tát”. Dĩ nhiên Bồ tát trong cái nhìn của tôi thôi, bởi vì, anh đã mang đến cho tôi – và có thể cho nhiều người khác nữa – biết bao niềm phúc lạc, bình an, cũng như biết bao nỗi xót xa, khắc khoải… tùy theo lứa tuổi của mình như một thứ “vô lượng nghĩa” kinh…

Mãi đến vài năm sau khi anh mất, tôi mới viết được một bài thơ nhỏ về anh: “Kẻ rong chơi”. Phải, theo tôi, anh là một kẻ rong chơi. Một vị Bồ tát hẳn nhiên là phải rong chơi trong cõi Ta bà thôi, với cái tâm không phân biệt, không chấp trước. Rong chơi thôi đã là quá đủ. Và không dễ. Bởi khi ta mất đi sự rong chơi, tức khắc ta rơi vào những “điên đảo mộng tưởng”…

Khi có cái tâm Bồ tát, người ta “thị hiện” ở cõi người như một cuộc “du ư ta bà thế giới”, để chia sẻ những niềm vui và cả những nỗi đau để rồi một hôm “ta lắng nghe ta” thì chợt nhận ra một nỗi niềm “từ bi bất ngờ” ập đến, từ đó biết ra “một cõi đi về” thênh thang!

Khi viết “Gió heo may đã về” tôi nhìn Trịnh Công Sơn khác với khi tôi viết “Nghĩ từ trái tim”. Ở “Gió heo may đã về”, Trịnh Công Sơn là của “cát bụi mệt nhoài”, còn ở “Nghĩ từ trái tim”, Trịnh Công Sơn là của “ta là ai mà còn trần gian thế”? Một câu hỏi như vậy mỗi chúng ta chẳng đã từng khắc khoải tự hỏi với chính mình đó sao?

Chân dung Trịnh Công Sơn. Ảnh: Đinh Cường

Câu trả lời có đó rồi: “Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt/ rọi suốt trăm năm một cõi đi về”. Đi cũng là về. Về cũng là đi. Nó không từ đâu đến, cũng chẳng về đâu (Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ). Chính là cái mà Bùi Giáng vẫn thường hay nói “Hà dĩ cố? Chơi thôi mà!”. Đôi vầng nhật nguyệt ấy là “minh”. Một thứ ánh sáng vẫn soi suốt dặm trường. Ta là ai mà còn trần gian thế? Ta là ai mà yêu quá đời này? Sao không qua bờ bên kia (đáo bỉ ngạn) đi, sao không “thị hiện”… niết bàn đi, mà cứ phải loanh quanh cho đời mỏi mệt?

Tôi quen Trịnh Công Sơn từ cái đêm anh ôm đàn hát một mình dưới mái hiên tôn một tối ở sân Trường đại học Văn khoa Sài Gòn thuở đó. Một người già trong công viên/ một người điên trong thành phố/ một người nằm không hơi thở/ một người ngồi nghe bom nổ… Anh nói tiếng nói của chúng tôi. Tôi nghe mình buốt lạnh: Vết lăn vết lăn trầm… Bài ca dao trên cồn đá; ôi quê nhà một thời… Từng hạt cơm khô, em bé lõa lồ, khóc tuổi thơ đi… Lứa chúng tôi, nói như bạn tôi, Lữ Kiều không chọn lịch sử mà lịch sử chọn mình.

Anh biết tôi với tên Đỗ Nghê, những bài thơ gần gũi trên Bách Khoa, Tình Thương… Anh thường gởi tôi những em bé với đôi dòng nguệch ngoạc: Gửi Đỗ Nghê… chăm sóc giùm…

Mỗi lần tôi ghé nhà thăm anh thường kêu to: “Lấy cho cậu Ngọc một ly nước lọc”! Anh biết tôi không rượu, không thuốc lá. Và không ép. Những khi đông vui, ly này ly khác, thuốc lá chuyền tay, anh vẫn gọi người nhà: Lấy cho cậu Ngọc một ly nước lọc!

Khi tôi in tập thơ Giữa hoàng hôn xưa, thì bìa là của Trịnh Công Sơn với một bức vẽ thiệt ngộ dành riêng cho bài “Thư cho bé sơ sinh”… Khi viết Gió heo may đã về, tôi dùng những ca từ của anh để đặt các tiểu tựa, Trịnh Công Sơn bèn “viết thêm” mấy dòng ở lời Bạt. Anh nói: Moi sẽ nói ngược lại ý toi cho vui nhé. Toi nói “có già”, moi sẽ nói không có già nhé! Và rồi, anh viết “Không có già, không có trẻ. Nói với một người trẻ tôi già rồi em ạ là một điều vô lễ”.

Đỗ Trung Quân nhận ra ngay vụ “cãi vã” này và bảo sao cho đến cùng, bác sĩ nói có, nhạc sĩ bảo không… trong một bài viết trên Tuổi Trẻ: “Như sông vào biển”.

Năm 1997, nghe Trịnh Công Sơn bệnh nặng, đang nằm ở khoa Săn sóc đặc biệt bệnh viện Chợ Rẫy. Tôi đến thăm. Cả nhà đang bứt rứt lo lắng đi qua đi lại trước cửa phòng, vì không ai được vào. Tôi trong nghề nên được các đồng nghiệp cho vào thăm sau khi đã khoác thêm blouse trắng, đổi giày… đâu đó chỉnh tề. Ôi Trịnh Công Sơn đó ư? Một cái xác ve xẹp lép, nhẹ tênh trên tấm drap trắng với nồng nặc mùi nhà thương và bao bệnh nhân hấp hối xung quanh. Ôi, biết bao ca khúc say đắm thẫn thờ là từ cái xác ve xẹp lép nhẹ tênh này đó sao? Có cái gì đó đã bay lên làm nên một Trịnh Công Sơn từ trong tứ đại ngũ uẩn này đó vậy? Có cái gì đó “mặc khải” chăng? Có cái gì đó “thị hiện” chăng? Đã mượn anh để trình hiện như hoa sen trong đầm lầy, như quỳnh hương thoáng sát na?

Tôi lay nhẹ. Anh mở mắt. Nhìn chầm chậm rồi lóe sáng “Toi mới về đó hả?”. Thì ra anh vẫn tỉnh, vẫn nhận ra tôi, còn biết tôi vừa mới về sau chuyến tu nghiệp ngắn ở Paris. Tôi mừng quá. Một cô y tá đến chích thuốc. Tôi hỏi cô có biết ai đây không? Cô lắc đầu. Trịnh Công Sơn đó. Cô hơi ngớ ra. Tôi nói thêm: nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đó. Cô có vẻ kinh ngạc. Hình như cô kêu lên, không ra tiếng: Trịnh Công Sơn đây sao? Trịnh Công Sơn đây sao?

Tôi thăm khám qua và bảo không sao đâu. Gan thôi. Gan anh thòng xuống đến 7cm dưới bờ sườn phải. Thực ra bệnh anh nặng hơn nhiều với nào tiểu đường, nào khớp, nào phổi, nào thận… (Trước đó tôi đã được tham khảo bệnh án). Mấy ngày sau, anh được chuyển lên phòng riêng ở tầng thứ 11. Lần này tôi đến đã thấy anh thảnh mảnh.

Khi anh được về nhà, thỉnh thoảng tôi lại ghé thăm. Lấy cho cậu Ngọc ly nước lọc nè! Anh lại kêu. Anh khoe mấy bức tranh mới, nêu những ý tưởng mới… “Moi quyết định bỏ rượu và bỏ thuốc lá rồi. Mỗi sáng đi bộ được một quãng…”. Anh nói. Tôi cười cười. Lần sau đến, anh nói: Moi quyết định bỏ thuốc lá thôi. Thuốc lá mỗi người một gu, nhưng rượu thì mọi người đều có thể uống chung với nhau được. Bạn đến đông vui không thể không uống chút rượu. Anh giải thích. Tôi vẫn mỉm cười. Anh có lý. “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”? Vấn đề là chất lượng cuộc sống chứ!

Rồi đùng cái tôi bị tai biến mạch máu não phải mổ cấp cứu. Những người bạn đến thăm lần này lại có Trịnh Công Sơn. Anh đi cùng Lữ Quýnh. Trịnh Công Sơn ôm theo một bó hồng vàng. Lúc nào anh cũng tươm tất như thế. Tôi khoe anh mấy bức vẽ trên giường bệnh của mình. Cái đầu trọc lóc bình vôi sau khi mổ. Anh có vẻ khoái lắm. Đó, thấy chưa? Toi không rượu không thuốc lá rồi cũng… vậy thôi!

Rồi một hôm, Lữ Kiều phone báo tôi Trịnh Công Sơn đi rồi.

Đi vào ngày 1.4, ngày của Cá.

Đi, cũng có nghĩa là về vậy.

Trịnh Công Sơn và một “nhạc cảnh” thời đại

NGUYỄN VĨNH NGUYÊN

Cõi nhạc Trịnh có thể ví như một hang động, cửa hang thì hẹp nhưng lòng rộng lớn, không chỉ đón nhận, mang chứa trong nó những tình tự sâu kín nơi những cá nhân cô độc trước cuộc đời mà còn đủ rộng để dẫn dụ, ôm trùm cả cái nhân quần rộng lớn.

Vì thế, nhìn vào cộng đồng mê nhạc Trịnh ngày càng lan rộng, có thể thấy những mâu thuẫn lạ lùng: có những người coi nó như một thứ Thánh kinh, cũng có kẻ coi như đồ trang sức; có người sâu sắc triết gia; cũng có lắm kẻ phù phiếm rửng mỡ… Điều gì trong thứ âm nhạc này đủ sức làm nên sự kỳ lạ đó?

Nếu ngoái lại quá khứ, còn có thể nhận ra một sự thật khó chối cãi: nhạc Trịnh được sinh ra để phá mờ ranh giới hai chiến tuyến. Sau những trận đánh khốc liệt, giữa núi rừng hoang vu Trường Sơn hay trong những đô thị đổ nát phương Nam, người ta nghe thấy tiếng radio nhiễu sóng đang phát những bản nhạc Trịnh Công Sơn. Người chiến thắng nghe nhạc Trịnh chợt chùng gân cốt, còn kẻ thua cuộc cũng tìm thấy trong nhạc Trịnh sự ủi an, xoa dịu. Không lạ gì khi Nguyễn Duy, sau này là nhà thơ danh tiếng, viết về kỷ niệm những đêm đường Chín – Nam Lào nằm trong căn hầm kèo rà đài nghe Khánh Ly hát Trịnh Công Sơn và lờ mờ hiểu ra, đây “hình như là cái đẹp”, càng không lạ gì khi trong hồi ký của mình, các nhà văn, nhà thơ như Bảo Ninh, Anh Ngọc, Nguyễn Văn Thọ… đều bị cái “tần sóng” nhạc Trịnh bên kia chiến tuyến làm cho mê đắm. Về phía miền Nam, cái nôi đã sinh ra và dung dưỡng tài năng đó, ta nhìn thấy tâm sự của những trí thức, binh lính chế độ cũ, dù ở lại hay ra đi sau 1975, dù nhớ hay quên, đồng lòng hay phản ứng trước phương thế hành xử chính trị của người nhạc sĩ này, phần lớn đều lặng lẽ tìm trong âm nhạc của ông sự chia sẻ, đồng điệu tâm hồn để sống qua những khúc quanh không ít thác ghềnh của thời cuộc. Điều gì hoá giải, xoá tan cái “giới tuyến buồn” kia? Chỉ có thể là tình tự dân tộc.

Vậy thì điều gì làm cho nhạc Trịnh trở thành vừa là thứ ngôn ngữ thân quen của giới trí thức lại có thể là chiếc áo người phù phiếm ưa mặc vào?

Trước hết, phải kể đến sự dễ gần, dễ nhớ của thứ tiết tấu ballade vốn sinh ra cho những cảnh trạng chia sẻ, trữ tình vốn rất hợp với hệ mỹ cảm thưởng ngoạn của người Việt. Rồi thì tình yêu, thân phận, là nỗi cô đơn thể hiện trong hệ thống ca từ được viết giàu thi ảnh, siêu thực, mông lung, lắm lúc đẩy lên thiền ca, triết ca… đã vô tình được “đính kèm”, tô vẽ thêm bởi những giai thoại các cuộc tình (với các Diễm) đầy ảo mộng sương khói của chuyện đời nghệ sĩ.

Huyền thoại được tạo ra từ đó. Và huyền thoại, đến lúc trở thành hình mẫu, thuộc về mỗi người, nó lớn lên cùng với thăng trầm, trải nghiệm, tư tưởng, tình cảm mỗi đời người. Vì thế, thứ tình yêu cộng với lời sẻ chia gần gũi, nhạc Trịnh vì thế mà thuộc về những không gian riêng từng người lúc cô quạnh hay cùng lắm là chốn gặp gỡ thân quen, tỏ bày chia sẻ, cộng hưởng cảm xúc tình thân hơn là không gian văn nghệ mang màu sắc náo động, sân khấu hoành tráng, ồn ào…

Từ việc chinh phục và làm dịu lắng, thức tỉnh tình tự dân tộc, thân phận, tình yêu nơi những tâm hồn quen được thôi thúc bởi những rộn ràng hành khúc, từ chỗ mang lại điều kiện mở lối hướng nội cho những cá nhân từ lâu bị điều khiển, kích động cơ bắp… âm nhạc Trịnh Công Sơn trở thành một biểu tượng của lay động, trí tuệ và sự sâu sắc (hay điều kiện, huyễn tưởng, nhu cầu phóng chiếu sự sâu sắc nơi tâm hồn người hát lẫn người nghe).

Trong cuộc sống chao đảo mọi giá trị, sự bất an, nguy cơ vong thân đe doạ thường trực trong nội tâm con người, thì nhạc Trịnh một mặt trở thành phương thuốc, một mặt trở thành phương tiện nguỵ trang hữu hiệu. Sinh thời, việc khoác vào tấm áo “vô tận du ca” (như tên ca khúc Never ending tour) theo mẫu hình Bob Dylan, đôi khi dáng dấp buông xả, vô vi của Lão, cái an nhiên quán tưởng của Phật được mang vào hoá giải những chia lìa, bất thành trong tình yêu đôi lứa nơi nhạc Trịnh (đại loại “từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”, “trời cao đất rộng một mình tôi đi” hay “ru em là cánh nhạn/ miệng ngọt hạt từ tâm”…) đủ sức đem đến cho người nghe một chiều kích thấm thía khác, trên cả nỗi đau hợp tan bình thường.

Trên tất cả, Trịnh Công Sơn đã trở thành một biểu tượng về tự do. Chính ở chỗ nhạc Trịnh khởi phát từ một tinh thần chính trị, thái độ xã hội, “làm giấy khai sinh” trong một không khí trí thức, cởi mở, nó đầy ắp sinh khí, một hôm trở gió nó trở thành một giá trị mơ ước, kiếm tìm của lớp người thời mới trong một “nhạc cảnh mới”.

Nhìn vào đám đông mê say Trịnh Công Sơn theo kiểu không đồng nhất, nhà phê bình Đặng Tiến, trong bài tiểu luận Đời và nhạc Trịnh Công Sơn có một nhận định, theo tôi, khá xác đáng: “Ca khúc Trịnh Công Sơn gợi suy tư, đáp ứng lại nhu cầu trí thức chính đáng ở một thiểu số và ảo tưởng trí thức thời thượng ở một đa số, trong đó có các cô cậu, ở mục Tìm bạn bốn phương trên các báo, tự giới thiệu là “yêu màu tím” và “nhạc họ Trịnh”, hay “nhạc TCS” viết tắt”. Không lạ gì trên không gian mạng, có thể gặp những thành viên đắc lực của forum Trịnh Công Sơn lại đồng thời tham gia fan club của Lam Trường hay ca sĩ Kem Dâu… Ở đây, tâm lý “đám đông không đồng nhất” xuất phát từ một ẩn ức dẫn đến hành vi điểm trang chống lại thực tế bạc màu bên trong tâm thức cộng đồng.

Vì vậy, trong câu chuyện mâu thuẫn, đa diện trong đám đông yêu nhạc Trịnh, hay “tuyên xưng” tình yêu với ca khúc Trịnh Công Sơn, có thể thấy ra thứ “nhạc cảnh” của thời đại. Cái hang động có tên nhạc Trịnh Công Sơn sẽ mãi còn là huyễn tưởng, huyền thoại trong tâm thức cộng đồng này. Và còn lâu, thật khó để giải thiêng!

Advertisements

Một phản hồi to “Trịnh đi cũng là về !”

  1. ánh sáng là bạn Says:

    Nhạc sĩ Phạm Duy: Trên một khía cạnh nào đó, tất cả những đau khổ, buồn bã của thời đại đều hiện lên trên bề mặt âm nhạc của Trịnh Công Sơn. Tôi cho rằng ngày nào người ta còn những bế tắc, buồn bã, thậm chí là cả những cơn giận dữ dẫn đến tuyệt vọng mà không chia sẻ được thì người ta còn hát Trịnh Công Sơn.Nhà thơ Đỗ Trung Quân: Ai đấy hãy cứ tranh luận và hãy chứng minh rằng: "Tôi – thế hệ của Trịnh không mang theo dấu ấn nào của Trịnh". Phần tôi – người viết cũng có một tuổi trẻ đi qua chiến tranh, xin nói rằng: Không thể!Khải Trí (sinh năm 1980, cư dân TP.HCM): Cứ vào đầu tháng tư, tôi lại theo dòng người đổ về những đêm nhạc tưởng niệm nhạc sĩ họ Trịnh ở hội quán Hội Ngộ trong khu du lịch Bình Quới. Ngồi trên bãi cỏ, tôi tự hỏi và lắng nghe trái tim mình, bất chợt tìm thấy câu trả lời trên gương mặt của những người mẹ, người chị, người anh, người em đang ngồi xung quanh… tất cả đang đi trong không gian âm thanh của nhạc sĩ Trịnh.Ngân Hà – Kiến Minh (thực hiện)VĐPP: : Cảm ơn anh đã cho đọc bài TSC tại trang nhà riêng, rất hay và ý vị! có chút gì đó suy tưởng, mơ mơ, thực thực..về một thế giới lặng im trong không gian nhạc Trịnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: