Trăng sao ngời bóng nguyệt

LỜI GIỚI THIỆU

Tôi có người huynh trưởng, miền cát nóng, chiều về cứ thả hồn theo nhịp thở, để rồi anh và tôi tỏ bày đôi điều huyền diệu. Anh tôi, nơi cõi bất diệt, nơi hiện hữu lá cây sắc nhiệm mầu, vùng gió cát giỡn đùa theo tiếng sóng, đưa anh tìm bến giác vô sinh.
Đôi nét về anh Nguyên Phương! Anh là một em Oanh vũ (đồng ấu) ưu tú. Từ những năm đầu thành lập GĐPT, thuộc Khuôn Hội Phật Giáo An bằng, quận Vinh Lộc, Tỉnh Thừa Thiên, nay là huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Là Ban viên Ban Hướng Dẫn GĐPT Thừa Thiên. Anh đang nắm giữ mui thuyền truyền thống sinh hoạt Gia Đình Phật Tử An Bằng và các đơn vị cận sự vùng duyên hải. Kể từ những ngày tháng bước vào con đường ánh đạo vàng, anh luôn luôn sách tấn dắt dìu đàn em phụng sự cho lý tưởng đúng theo lời Phật dạy. Sau những biến cố nguồn cội GĐPT anh vẫn một lòng hiến dâng đời riêng cho nếp sống đạo tình do Chư Tổ chỉ giáo. Nhiều lần anh rất tâm huyết hầu chuyện Anh Võ Đình Cường “người Anh cả” của cả trái tim áo lam trên thế giới và mặc dầu tang lễ của Anh cả anh không vào Nam tham dự, nhưng vào khoảng thời gian Vesak thế giới tại Việt Nam anh có đến Thiền Viện Vạn Hạnh Sài Gòn thọ tang tưởng nhớ, nơi hương áng Người Anh cả được tôn trí. Với anh, Anh vẫn mãi là ngọn đuốc thắp sáng cho những nơi tăm tối lầm mê, bỏ quên bổn phận màu áo lam.
Từ những năm tháng, Phật Giáo sau lần đại hội thống nhất năm 1964, Phật giáo An Bằng cũng dần được chỉnh soạn phát triển và mở ra một tương lai với tinh thần lục hòa dưới ngọn cờ hòa bình năm sắc . Từ Tổng Hội Niệm Phật Đường cho đến Đoàn thanh thiếu niên, Gia Đình Phật Tử (GĐPT) An Bằng, anh được bổn sư thượng Chơn hạ Thức ban cho pháp danh Nguyên Phương. Sau khi Bổn sư viên tịch, anh được Hòa Thượng Thích Thiện Siêu giáo dưỡng, kể từ đó anh đã theo gót Thầy làm Phật sự cho quê hương, với tinh thần chịu khó dấn thân, anh đã không ngừng vun bồi hạt mầm Từ Bi- Hỷ Xả-Trí Tuệ cho các thế hệ qua các kì Trại huấn luyện huynh trưởng, đoàn sinh các miền. Được bổn sư và Chư tôn đức Tỉnh hội tán dương công đức. Mặc dù thời cuộc biến động, làm lay chuyển ý chí tình người, không ngừng phân hóa tổ chức GĐPT nhưng anh “một lòng giữ vững tâm đạo” hướng dẫn Qui chế cụ thể về các sinh hoạt trong nội bộ Phật giáo An Bằng. Trong quá trình xao lãng về mạng mạch tâm linh đối với lớp huynh trưởng trẻ kế thừa mà bấy lâu anh đã không ngừng thai ngén bồi đắp. Do đó không ngoài việc biên khảo, sưu tầm và nghiên cứu hướng đi phụng sự chúng sanh là lợi ích cúng dường Chư Phật’. Anh, cùng với Ban Huynh trưởng lưu niên cho ra đời Tập San đặc biệt “ Phật giáo An Bằng Xưa & Nay” suốt một thời gian dài hết lòng tìm kiếm, đối chiếu và ngày càng minh chứng tính truyền bá Đạo Phật trên quê hương An Bằng.
Trong hàng ngũ Huynh trưởng, anh được Ban Hướng Dẫn Thừa Thiên mời vào các vị trí điều hành quan trọng và về những sự đóng góp của anh cho hội đồng Huynh trưởng Vạn hạnh, Cấp tấn. với một người xuất thân có truyền thống gia đình Phật tử, từ vùng quê hẻo lánh nhưng cũng được Bác Nguyễn Sĩ Thiều bổ nhiệm vào việc Ủy viên Doanh tế GĐPT Tỉnh Thừa Thiên.
Làm người hướng dẫn đoàn sinh GĐPT An Bằng, anh luôn tham gia vào các chương trình hoằng pháp, giáo dục, từ thiện văn hóa, văn nghệ, hội trại bạn, nên anh được các huynh trưởng lớn tin tưởng thương yêu và giao phó những trách nhiệm đối nội, đối ngoại cho Niệm Phật Đường, cố vấn ban huynh trưởng GĐPT. Vào đầu năm 2003 anh Nguyên Phương đã y theo sự đề nghị của bác Trương Công Châu. Khuôn trưởng lúc bấy giờ đã thành lập Ngành Thanh Gia Đình Phật Tử An bằng, Ngành mà kể từ ngày thành lập GĐPT An Bằng đến năm 1999 chưa có.
Năm 2008 anh cùng với quí bác, quí anh chị Huynh trưởng, Niên trưởng thuộc Khuôn hội Phật giáo An Bằng ở trong nước và hải ngoại đã góp công động viên khởi công xây dựng tượng đài Quán Thế Âm ở bãi biển, An Bằng cũng như các di tích khác bị mai một bỏ quên theo thời gian.
Huynh trưởng Nguyên Phương với tập. “PHẬT GIÁO AN BẰNG XƯA VÀ NAY ”.
Đây có thể xem như là một công trình biên soạn, sao lục tất cả các văn kiện và sự phát triển Phật Giáo An Bằng qua các thời đại, cũng chỉ với tâm huyết vì tiền đồ hậu bối của người con xứ Độn Bồi An Đức Tự năm xưa. Ấn phẩm lịch sử này, đầy đủ sử liệu nhất từ trước đến giờ, là một tư liệu nghiên cứu bổ ích cho các nghiên cứu tiếp theo về sự hình thành và phát triển Phật giáo và GĐPT An Bằng sau này.

Phật Lịch 2554 – 2010
Ban Hoằng pháp VHPG. Pháp Bảo kính giới Thiệu


TRÍCH KINH YÊU THƯƠNG
Như một bà mẹ đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài.
Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lòng từ bi không bị bất cứ gì làm ngăn cách, tâm ta không có vương vấn một chút hờn oán hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi đứng khi ngồi, khi nằm miễn là còn thức, ta nguyện duy trì trong ta chánh niệm từ bi. Nếp sống từ bi là nếp sống cao đẹp nhất.
—————————————————

Mái Chùa Che Chở Hồn Dân Tộc Hay Mái Chùa Việt Nam

Từ mấy ngàn năm nay, Phật giáo và Dân tộc Việt Nam gắn liền nhau. Phật giáo thịnh Dân tộc thịnh Phật giáo suy Dân tộc suy, như dòng sữa ngọt, nuôi dưỡng tinh thần dân tộc Việt Nam, như dòng suối mát thấm sâu vào lòng đất mẹ Việt Nam.
Phật giáo, ngoài kho tàng kinh điển cao thâm, ngoài giáo lý nhiệm mầu, người ta còn nghỉ đến mái Chùa cong cong, cổ kính, nép mình khiêm nhường trong thôn xóm đìu hiu.

Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng
Có con đường đỏ chạy lang thang
Có hàng tre gợi hồn sông núi
Yên lặng chùa tôi ngập nắng vàng

Có những cây mai sống trọn đời
Bên hàng tùng bách mãi xanh tươi
Nhìn lên phản phất hương trầm toả
Đức phật từ bi mĩm miệng cười.
(Huyền Không nhớ Chùa)

Thật là đạo vị biết bao! Dễ thương biết bao ngôi chùa là tất cả cái gì cao qúi của dân tộc Việt. Chùa tượng trưng cho quê hương dân tộc.
Quê tôi có gió bốn mùa
Có trăng giữa thán, có chùa quanh năm
Chuông hôm gió sớm trăng rằm
Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi
(Nguyễn Bính – mây tần)

Ngôi Chùa với mái phủ rêu xanh vẫn trơ gang cùng tế nguyệt qua tháng năm, như dầu trải qua bao cuộc thăng trầm trong lịch sử quốc gia Việt Nam vẫn trường tồn:

Chùa đứng hiền lành tự thưở xưa
Hồn dân gởi gắm tự bao giờ
Tổ tiên bồi đắp qua năm tháng
Nối tiếp không ngừng lớp tuổi thơ.
“ Huyền Không ngày vui Dân tộc”.

Vào những đêm trăng thanh sân chùa thật đẹp dân làng đi lễ chùa thật đông.

Mỗi tối dân quê đón gió lành
Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi
An ủi dân lành mọi mái tranh
(Huyền Không – Nhớ Chùa)
Và nhớ đi tìm đàn em bé, nô đùa dưới ánh trăng ngà, ngoài đồng ruộng hay dưới ánh trăng ngà, trong sân chùa: Nhạc phẩm – Tìm Đâu?
Ngày mười bốn, ba mươi người dân quê lo tắm gội sạch sẽ, sửa soạn hương hoa, lên Chùa lễ phật lạy sám hối. Đây là dịp để cho người ta thăm hỏi nhau, cho tình láng giềng ngày thêm thân mật.
Trầm đốt hương thơm bay ngạt ngào
Thôn trên xóm dưới dạ nao nao
Dân làng tắm gội lên chùa lễ
Mười bốn, ba mươi mỗi tối nào
(Huyền Không – Nhớ Chùa)
Ngày xuân, chùa cũng là nơi để cho các cô gái đến lạy phật, nguyện cầu cho duyên may phận đẹp. Chùa lại được điểm tô thêm tà áo đủ màu của các cô gái đang độ thanh xuân:
Đầu xuân cùng em đi
Lễ chùa này vườn nắng tung bay
Và ngàn lau vàng màu khép nép
Bãi sông bay một con bướm đẹp
(Phạm Thiên Sư – Nhạc Phẩm. Em Đi Lễ Chùa Này)

Chùa như điệu nhạc linh thiêng dẫn tâm hồn con người vào cõi thanh tịnh:
An tịnh làm sao khúc nhạc thuyền.
Lắng lòng tu niệm vượt trần duyên
Trăng trong khêu gợi hồn thanh tịnh
Gió mát ngân vang đạo diệu hiền
(Thích Thiền ấn – Nhạc Thuyền)
Đặc biệt nhất là tiếng chuông chùa, tiếng chuông như giọt nước cành dương xóa tan bao u sầu phiền não trong lòng nhân thế.
Giữa cuộc đời lầm tham đầy tham lam ích kỷ, tội lỗi xấu xa, người người chạy theo bã lợi danh, quay quần theo nếp sống phi nhân phi nghĩa, tiếng chuông chùa làm lòng người dịu xuống, tâm hồn bớt căng thẳng.
Ta hãy nghe thi sĩ Trúc Điệp mô tả tiếng chuông chùa:
Đây dư âm của hồn chuông quá khứ
Đương gào hôn thức tỉnh mộng thiên thu
Hởi sinh linh trong kiếp sống mê mù
Say đắm mãi cỏi lòng thêm đau khổ.
Chuông cảnh tỉnh vang lên lời kể lễ
Như khuyên cơn an ủi vạn linh hồn
Khắp trần gian mà vọng lại cố thôn
Cho tất cả một cái gì linh động.
(Trúc điệp – Tiếng chuông ngân)
Dân làng sống êm đềm theo nhịp chuông sáng, chiều, đời sống hiền hoà như tiếng chuông chùa:
Vì vậy làng tôi sống thái bình
Sớm khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn khoai gạo bắp nuôi dân sống
Xây dựng tương lai xứ sở mình
(Huyền không – nhớ chùa)
Hoà với tiếng chuông tiếng mõ cũng ấm áp không kém, mõ và chuông hoà thành âm thanh thật đặc biệt: Thanh tịnh trong đêm thâu
Sự im lặng nhiệm mầu
Không gian vừa thoát đặng
Tiếng mõ vọng từ đâu

An tỉnh tâm hồn ta,
Vủ trụ gần như xa
Duy nhất trong tỉnh lặng
Thời gian là tiếng gà
(Thuyền Ấn – Tiếng mõ vọng từ đâu)

Trong khung cảnh tịch mịch, tiếng chuông chùa ngân nga không làm tan mất không khí đạo vị chốn Thiền môn mà càng làm tăng thêm sự thanh thoát trong tâm hồn mọi người. Tiếng chuông chùa như lời nhắc nhở tha thiết của đấng Từ bi khuyên chúng sanh nên quay về Bến giác:
Trong làn không khí yên tĩnh, êm đềm, tiếng chuông thong thả, ngân nga, như đem mùi Thiền làm tăng vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên. Lá cây rung động, ngọn khói thướt tha, bông lúa sột soạt, như cảm tiếng gọi của Mâu Ni muốn theo về nơi hư không tịch mịch.
(Khái Hưng – Hồn bướm mơ tiên)

Chuông chùa, vượt thời gian và không gian, bao giờ cũng là thông điệp tình thương của bậc Đại giác:
Chuông không ngại ngày đêm mưa gió thổi
Chuông không vì sông bể núi đèo ngăn
Tiếng của chuông là bản thể xa xăm
Đây vọng lại mấy nghìn năm âm hưởng
(Trúc điệp – tiếng chuông ngân)
Suối từ tuôn chảy theo tiếng chuông dập tắt lửa hận thù cuồn vọng:
Tiếng chuông ngân nga trong bóng hoàng hôn xuống, hỡi Daniel ! Thanh Lương ở bên trời xa, anh có nghe tiếng chuông Chùa vọng lại không? Anh cứ tin tưởng ở tương lai nhân loại, hãy cầu nguyện cho suối từ của Đức Phật mau dập tắt lửa cuồng bạo của mọi người
(¬Nhất Hạnh – Tình người)
Trong lịch sử truyền giáo, phật giáo chưa từng làm đổ một giọt máu đào. Tín đồ đến chùa tin phật là vì Giáo lý cao thâm của đức Thế Tôn, vì niềm tin, vì đạo Phật tượng trưng cho Từ bi chứ không vì bạo lực hay vì danh vì lợi. Phật giáo đến đâu là thích hợp ngay với phong tục tập quán của dân tộc đó và trở thành tôn giáo của dân tộc đó. Đạo Phật chỉ có tình thương chứ không có hận thù.
Có những lúc vì kế sinh nhai, hoặc vì hoàn cảnh chiến tranh, chúng ta phải xa quê hương yêu dấu thật là đau lòng cho kẻ ly hương:
Mai này tôi bỏ quê tôi
Bỏ trăng, bỏ gió, chao ôi bỏ chùa
Đem thân đi với giang hồ
Cây đa bến củ con đò lênh đênh
(Nguyễn Bính)

Xa quê hương, lòng ai khỏi thiết tha mong nhớ, nhưng nhớ quê là nhớ chùa:

“Chuông vắng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung”
(Huyền không – Nhớ chùa)
Chùa của thi sĩ Trúc Điệp thật hiền hoà, thật đạo vị.
Viếng cảnh chùa xưa quá nhiêm mầu
Thiền Sư nhập định nói gì đâu
Chim kêu suối chảy hòa muôn điệu
Lá rụng thu về vẽ mấy câu
Không có trăng kia chìm đay nước
Thực hư đây nọ buột đêm thâu
Nam kha giấc mộng nay vừa tỉnh
Nước biếc non xanh đã bấy lâu.
(Trúc Điệp – Mộng Du Tăng Viên)
Dù có việc chi hờn giận nhau, đến chùa, ai cũng thấy lòng hoan hỹ, không khí ở chùa hiền lành quá, không ai có thể ôm hờn giận trong lòng;
Cổng chùa bao giờ cũng mở rộng không sợ trộm cắp, vì chùa quá nghèo, và có lẽ dưới lòng từ bi không ai còn có thể sanh lòng tham lam khi vào chùa.
Một cảnh chùa nghèo nàn như vậy không thể ban phát vật chất lợi lộc cho ai hết, nhưng nhờ đó mà nó trở nên thân mật với mọi người. Ai muốn ghé chùa chơi cũng được, ghé vào giờ nào cũng được, cửa Tam quang gần như không bao giờ đóng. Nhà chùa không phải coi chừng kẻ trộm cắp, vì chẳng có gì đáng để trộm cắp…
(Võ Hồng – Mái chùa xưa)

Dân làng xem chùa như mái nhà thứ hai của mình, vì không khí ở chùa quen thuộc như ở nhà. Đó là tình quê, tình dân tộc:
Thuyền của toàn dân chính quốc hồn
Là ngôi chùa nhỏ ở hương thôn
Tháng năm bao bọc tình sông núi
Ngăn gió ngàn xa bớt dập dồn
(Huyền không – Đây một con thuyền)

Chùa là tình cảm dịu hiền suối tuôn chảy dòng nước Từ bi, là nơi chất chứa bao tình cảm dịu hiền, nhưng chan hòa đạo vị, nơi mà lợi danh tiền bạc phải bỏ ngoài cổng:

“Quê hương tôi miền trung, sớm hôm chuông chùa nhẹ rung, tiếng muôn đời hồn tổ tiên kiêu hùng. Ôi! Uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm, nơi yêu thương phát nguồn đạo vàng, qua bao giông tố, chùa Từ Đàm tôi vẫn còn.
Quê hương tôi là đây, sớm hôm hương trầm nhẹ bay vấn vương lời kinh chiều nay vơi đầy. Ôi! Thân yêu bóng chùa Từ Đàm, nơi Bắc Nam nối liền một nhà tay trong tay quyết vì loài người, đời lầm thang!!….
(Nguyên Thông vì Tâm Đại nhạc phẩm Từ Đàm Quê Hương)

Đất nước Việt Nam nơi bốn ngàn năm Văn hiến, có một lịch sử đầy kiêu hùng, anh dũng. Do đó tình yêu nước bao giờ cũng rạt rào trong lòng người dân Việt. Bảo vệ chùa đồng nghĩa với bảo vệ đất nước:

Muốn sống còn lâu phải hướng về
Gắn liền nếp sống với quê hương
Chung lưng bảo vệ ngôi chùa cổ
Bên mái đình xưa ruộng bốn bề.
(Huyền Không – Đây một con thuyền)

Trong cơn chinh chiến, mái chùa thân yêu sao tránh khỏi được lằn tên mũi đạn, mái chùa có thể bị sụp đổ, hoang tàn. Nhưng không vì sự tiêu điều đó mà chùa mất đi vẻ trang nghiêm cổ kính muôn đời; trái lại có khi nhìn thấy chùa bị đổ nát mà lòng dân càng yêu quê hương đất nước hơn.
Nhìn ngôi chùa mà mái trường lổ đổ, vết đạn đang nhẫn nhục cố khép mình sau bốn bức tường hàng rào cắt ngan.

Trân: Thấy rờn rợn và mũi lòng như đứng trước cảnh hăm doạ của tội ác chiến tranh, đối với niềm đạo đức hoà bình, trong khung cảnh nhuốm về suy vong ấy, bỗng dâng Trân thấy thương ngôi chùa một cách tràn ngập sâu xa, như thương một cái gì cao quí đẹp thuần tuý nhất của gia đình của quê hương chàng, hơn thế nữa của toàn nhân loại.
(Trương Tú – trở về ánh sáng).
Mái chùa hoang của thi sĩ Lê Nghị cũng lạnh lẽo, rêu phong như thắm đượm tình đạo:

Mái chùa cũ chút hồn xưa
Ngói rêu cỏ mọc trên trưa nắng hồng
Trúc đào nở đỏ từng bông
Bên khe giếng mục biệt dòng nhạn bay
Mây trời trắng tượng ngủ say
Nắng mưa dưới núi tháng ngày có không
Ngõ chùa vắng áo Sư ông
Gió tung năm trước có mong chi về”
(Lê Nghị – Chùa Hoang)
Chùa là gia đình
Chùa là quê mẹ
Chùa là quê hương
Chùa là tình thương
Chùa là quốc gia dân tộc.

Mái chùa tượng trưng cho tất cả thắm tình chất chứa trong trái tim, trong tâm hồn người dân Việt. Tình yêu quê hương gắn liền với tình yêu đạo Phật, yêu mái chùa thật đúng như lời nhà thơ Đạo Huyền Không:
“Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của Tổ ông”

19 tháng hai Kỹ mão (5/4/1999)
Nguồn từ tập : ( Phật giáo An Bằng Xưa và Nay – Nguyên Phương biên tập )

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: